TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày: 16/4/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HCM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Quang Chính – Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh phường Hiệp Phú;
- Ông Huỳnh Tiến Dũng – Nguyên giáo viên, Chuyên viên phòng Giáo dục, đào tạo quận Thủ Đức (nay là thành phố Thủ Đức).
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: ông Phạm Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/HSST ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Trọng G; sinh năm: 1994; tại: Nghệ An; Thường trú: Xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Trọng H và bà Nguyễn Thị H1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án số 11/2013/HSPT ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, bản án hình sự sơ thẩm số 412/2012/HSST ngày 19/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 09 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”, chấp hành xong án phạt ngày 21/12/2013, đã thi hành án dân sự ngày 16/4/2013
Bản án số 08/2017/HSST ngày 28/03/2017 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phạt ngày 04/9/2017, đã thi hành án dân sự ngày 26/6/2017
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2023(có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Anh Nguyễn Thành D – sinh ngày 06/9/2006; Địa chỉ: D đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: bà Hà Thị Ngọc B – sinh năm 1976; Địa chỉ: D đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Nguyễn Đình T – sinh năm 2003; Địa chỉ: D đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng: anh Hà Văn C – sinh năm 1993
(tất cả vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 06 giờ 00 ngày 28/8/2023, anh Nguyễn Thành D điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59X3-767.61 đến quán C1, số A X, khu phố F, phường P, thành phố T để làm việc, khi đến nơi anh D để xe trước quán nhưng quên rút chìa khóa xe, vẫn cắm sẵn chìa khóa trong ổ khóa xe rồi đi vào trong làm việc.
Khoảng 06 giờ 00 ngày 28/8/2023, Đặng Trọng G rủ Đ (không rõ lai lịch) là bạn bè quen biết ở B đi tìm tài sản để lấy trộm, thì Đ đồng ý và đưa cho G 01 bình xịt hơi cay (dùng để xịt khi người khác phát hiện và truy đuổi) và 01 bộ đoản (dùng để phá khóa xe). Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen (không rõ biển số) chở G từ bến xe Lam Hồng đến khu vực thành phố T đi tìm tài sản người khác để sơ hở thì lấy trộm. Khi đi ngang quán C1 Đỏ địa chỉ số A X, khu phố F, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì G nói với Đ dừng lại để G vào mua cà phê. Sau khi mua cà phê xong thì G phát hiện xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59X3-767.61 của anh D đang dựng ở trước cửa quán và có cắm sẵn chìa khóa xe nên G nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này nhưng do có chủ quán đang đứng gần đó nên G không lấy mà đi ra nói với Đ chở chạy đi một đoạn rồi quay lại. Khi quay lại, Đ dừng xe trước cửa quán để G đi vào mua cà phê, khi quay ra G đi lại gần xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59X3-767.61, G dùng tay phải mở chìa khóa xe rồi lên ngồi nổ máy xe, điều khiển xe chạy ra hướng đường Đ tẩu thoát thì bị anh Nguyễn Thành D là chủ xe phát hiện truy hô và chạy đến đạp ngã xe Giáp đang điều khiển. Sau đó, G đứng dậy, bỏ chạy, trong lúc G bỏ chạy rồi lấy trong túi vải đeo trên người ra 01 bình xịt hơi cay, quay lại xịt về phía những người truy đuổi, nhưng không trúng ai. Khi G chạy đến trước cổng khu dân cư G số E Đ, phường P, thành phố T thì người dân bắt giữ báo về Công an phường P.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Đặng Trọng G đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Bản kết luận định giá tài sản số A- KV2/KLĐG- HĐĐGTS ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, thành phố T kết luận: Xe mô tô Honda Future, màu đỏ đen, biển số 59X3-767.61 trị giá 29.100.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- 01 túi vải màu đen (18cmx23cm) có dây đeo; 01 bình xịt hơi cay bằng kim loại màu đen, có tay cầm bằng nhựa; 01 thanh kim loại màu trắng có đuôi hình lục giác, đầu dẹp nhọn dài 9cm; 01 thanh kim loại màu trắng có đuôi hình lục giác, đầu dẹp nhọn dài 8,5cm; 01 thanh kim loại màu trắng hình chữ T;
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen.
- 01 xe mô tô Honda Future, màu đỏ đen, biển số 59X3-767.61. Chủ sở hữu là anh Nguyễn Đình T, anh T cho anh Nguyễn Thành D mượn để đi công việc. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T.
Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Thành D và anh Nguyễn Đình T đã nhận lại xe, sau khi nhận lại xe không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
[2] Bản Cáo trạng số 93/CT-VKSTPTĐ ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Đặng Trọng G tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội như cáo trạng đã truy tố nêu trên.
Bị cáo phạm tội lần đầu thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Mức án đề nghị: từ 03 (ba) năm đến 03 (năm) 06 (sáu) tháng tù.
Về phần vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Về phần dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với xã hội, có điều kiện làm lại cuộc đời và chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: khoảng 06 giờ 00 ngày 28/8/2023 tại quán C1 địa chỉ số A X, khu phố F, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đặng Trọng G đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59X3-767.61 theo định giá trong tố tụng hình sự trị giá 29.100.000 đồng của anh Nguyễn Thành D. Như vậy có cơ sở xác định bị cáo phạm tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Quá trình điểu khiển xe trộm cắp bỏ chạy đã bị anh Nguyễn Thành D phát hiện truy đuổi, đạp ngã xe và truy hô bắt giữ bị cáo, trong lúc bỏ chạy bị cáo lấy trong túi vải đeo trên người ra 01 bình xịt hơi cay, quay lại xịt về phía những người truy đổi, nhưng không trúng ai. Khi G chạy đến trước cổng khu dân cư G số E Đ, phường P, thành phố T thì người dân bắt giữ báo về Công an phường P. Bị cáo đã có hành vi hành hung để tẩu thoát đã vi phạm quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội.
Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với tên Đ chưa rõ lai lịch là đối tượng G rủ đi trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành ra soát nhưng chưa phát hiện đối tượng. Đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra làm rõ khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[3] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - 01 túi vải màu đen (18cmx23cm) có dây đeo; 01 bình xịt hơi cay bằng kim loại màu đen, có tay cầm bằng nhựa; 01 thanh kim loại màu trắng có đuôi hình lục giác, đầu dẹp nhọn dài 9cm; 01 thanh kim loại màu trắng có đuôi hình lục giác, đầu dẹp nhọn dài 8,5cm; 01 thanh kim loại màu trắng hình chữ T là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen, đã qua sử dụng, máy đã cũ, không hoạt động, thu giữ của bị cáo Đặng Trọng G không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 xe mô tô Honda Future, màu đỏ đen, biển số 59X3-767.61. Chủ sở hữu là anh Nguyễn Đình T, anh T cho anh Nguyễn Thành D mượn để đi công việc. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: anh T, anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Tuyên bố bị cáo Đặng Trọng G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng Điều 38; điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Bị cáo Đặng Trọng G 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- - Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 túi vải màu đen (18cmx23cm) có dây đeo; 01 bình xịt hơi cay bằng kim loại màu đen, có tay cầm bằng nhựa; 01 thanh kim loại màu trắng có đuôi hình lục giác, đầu dẹp nhọn dài 9cm; 01 thanh kim loại màu trắng có đuôi hình lục giác, đầu dẹp nhọn dài 8,5cm; 01 thanh kim loại màu trắng hình chữ T1
- + Trả lại cho bị cáo Đặng Trọng G 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ đen.
- (Vật chứng tại Phiếu nhập kho số NK24/132C ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
- - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng TRọng G - TCTS
