Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 153/2024/DS-PT

Ngày 12 - 7 - 2024

V/v: Tranh chấp lối đi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang.

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và bà Nguyễn Thị Hương Giang;

Thư ký phiên toà: bà NguyễnThị Thanh Hoa - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22/4/2024, 13/6/2024 và 12/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 332/2023/TLPT-DS ngày 13/12/2023, về việc “Tranh chấp lối đi” do Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 27/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 91/2024/QĐ-PT ngày 13/02/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 82/TB-TA ngày 12/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2024/QĐ-PT ngày 21/03/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 66/2022/QĐ-PT ngày 22/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 247/TB-TA ngày 10/5/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 91/2022/QĐ-PT ngày 13/6/2024 giữa:

Nguyên đơn: ông Nguyễn Huy T, sinh năm 1953 (có mặt);

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn:

1. Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1977 (có mặt tại phiên toà ngày 22/4/2024, 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo uỷ quyền của anh L: ông Vi Văn L1, sinh năm theo văn bản ủy quyền ngày 13/02/2024 (có mặt tại phiên toà ngày 22/4/2024, 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

1

2. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1985 (có mặt 22/4/2024, 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

Người đại diện theo ủy quyền của chị M: ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1962 theo Giấy uỷ quyền ngày 06/6/2024 (có mặt tại phiên tòa ngày 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

Đều có địa chỉ: tổ dân phố Số D, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1941 (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của bà L2: chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978 theo văn bản ủy quyền ngày 14/8/2023 (có mặt tại phiên tòa ngày 22/4/2024, 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1933 (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của ông T3: chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1985 theo văn bản ủy quyền ngày 25/9/2023 ( có mặt tại phiên toà ngày 22/4/2024, 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

3. Bà Vi Thị T4, sinh năm 1979 (vắng mặt);

4. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (vắng mặt);

Đều có địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của chị H: ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1962 theo Giấy uỷ quyền ngày 06/6/2024 (có mặt tại phiên toà ngày 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

Địa chỉ: tổ dân phố Số D, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

5. Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1978 (vắng mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của anh N: ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1962 theo Giấy uỷ quyền ngày 06/6/2024 (có mặt tại phiên toà ngày 13/6/2024, vắng mặt tại phiên toà ngày 12/7/2024);

Đều có địa chỉ: tổ dân phố Số D, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

6. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954 (vắng mặt);

7. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1989 (vắng mặt);

8. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Người đại diện của bà B, anh S, chị C là ông Nguyễn Huy T theo văn bản ủy quyền ngày 25/03/2024 (có mặt);

Đều có địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.

9. UBND thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang do ông Phạm Văn T5 – Chức vụ: Chủ tịch đại diện (vắng mặt);

10. UBND huyện S, do ông Ngọc Đức V, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S đại diện theo văn bản ủy quyền số 1951/UBND-NC, ngày 29/6/2023 (vắng mặt);

Người kháng cáo: nguyên đơn – ông Nguyễn Huy T.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/DS-ST ngày 27/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - ông Nguyễn Huy T trình bày: gia đình ông có một thửa đất ở tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số AO 125478, ngày 26/11/2009, thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ 00, loại đất ở 240m², đất vườn 282,5m². Gia đình ông quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài, không có tranh chấp.

Gia đình ông sử dụng lối đi liên thôn nối từ đường tỉnh lộ 293 đi vào thửa đất của gia đình canh tác. Lối đi này đã có từ xưa, là lối đi chung của người dân trong thôn có đất giáp với lối đi. Từ thửa đất nhà ông ra đến tỉnh lộ 293, đoạn lối đi tiếp giáp một bên là thửa đất của nhà ông Hoàng Văn L, một bên giáp đất của chị Nguyễn Thị M. Kích thước lối đi rộng 4m, dài khoảng 30m. Nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do hai gia đình này đã xây dựng nhà ở, quán và vành lao lấn chiếm một phần diện tích lối đi, khiến lối đi bị thu hẹp lại, trước đây lối đi rộng 4m nhưng nay bị lấn chiếm chỉ còn khoảng 1,4m – 1,9m. Việc lấn chiếm lối đi của ông L, chị M đã gây khó khăn cho việc đi lại của gia đình ông cũng như người dân địa phương. Khi ông L, chị M xây dựng công trình lấn chiếm lối đi, ông và người dân có yêu cầu ông L, chị M không được lấn chiếm nhưng ông L, chị M không nghe. Năm 2019, ông cùng một số người dân trong thôn gửi đơn yêu cầu UBND thị trấn T giải quyết. UBND thị trấn T tiến hành hòa giải nhưng không có đạt kết quả. Năm 2022, ông tiếp tục yêu cầu UBND thị trấn T Tử giải quyết về việc tranh chấp lối đi, UBND thị trấn T đã tiến hành hòa giải nhưng hai bên không đạt được thỏa thuận.

Ban đầu ông khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Văn L trả lại diện tích lấn chiếm rộng khoảng 0,6-2,6m, chiều dài khoảng 22m, diện tích khoảng 40m²; yêu cầu chị Nguyễn Thị M trả lại diện tích lấn chiếm rộng khoảng 0,5-1,4m, chiều dài khoảng 22m, diện tích khoảng 21m². Ngày 19/7/2023, ông thay đổi yêu cầu khởi kiện theo kết quả đo đạc, yêu cầu gia đình ông L phải trả diện tích 29,6m², bà M trả lại diện tích lối đi là 24,9m². Về tài sản là công trình xây dựng trên diện tích lối đi có tranh chấp, yêu cầu ông L, bà M di dời ra khỏi diện tích lối đi có tranh chấp để trả lại lối đi cho gia đình ông và người dân sử dụng.

Bị đơn - ông Hoàng Văn L trình bày: gia đình ông có một thửa đất ở tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S đã được cấp GCNQSDĐ số BĐ 215469, ngày 12/5/2011, thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ 00, loại đất ở, diện tích 120m². Đất có tứ cận phía Đông giáp đường mòn thôn N, phía Tây giáp đất nhà ông Hoàng Văn V1, phía Nam giáp đất ông Nguyễn Huy T, phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 293. Nguồn gốc thửa đất là do bố mẹ ông tặng cho ông quản lý, sử dụng từ năm 2011. Gia đình ông có trồng cây ăn quả trên thửa đất đến năm 2019 thì xây dựng nhà ở.

3

Trước đây, gia đình ông có mành rào thửa đất phía giáp đường mòn bằng cọc lim, mành tre. Quá trình quản lý, sử dụng không ai có ý kiến gì. Năm 2019, gia đình ông xây dựng nhà ở trên đất thì ông T có ý kiến cho rằng gia đình ông xây dựng nhà ở lấn đường mòn của thôn. Chính quyền địa phương đã giải quyết nhiều lần nhưng các bên không thỏa thuận được.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu gia đình ông phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích lối đi đã lấn chiếm, ông xác định toàn bộ diện tích đất gia đình ông quản lý, sử dụng từ trước đến nay phía giáp lối đi vẫn còn nguyên các cọc lim làm ranh giới. Thửa đất của gia đình ông đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, gia đình ông quản lý, sử dụng đúng thửa đất của mình nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Bị đơn - chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị có một thửa đất tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S đã được GCNQSDĐ số BC 134002, ngày 02/8/2010, thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ 00, loại đất ở, diện tích 97,2m². Đất có tứ cận phía Đông giáp đường 293, phía Tây và phía Nam đều giáp đất nhà ông Nguyễn Văn T3, phía Bắc giáp đường đường mòn thôn. Nguồn gốc thửa đất là do ông nội chị là Nguyễn Văn T3 tặng cho chị quản lý, sử dụng từ năm 2010. Chị có làm nhà, xây dựng tường rào trên thửa đất. Quá trình quản lý, sử dụng không xảy ra tranh chấp với ai. Năm 2012, chị chuyển chỗ ở nên đã giao lại toàn bộ nhà, đất và giấy tờ về đất cho chú chị là Nguyễn Văn H, sinh năm 1964, cùng địa chỉ quản lý, sử dụng.

Về nguyên nhân xảy ra tranh chấp, chị không biết vì lý do gì ông T lại cho rằng chị xây dựng nhà ở lấn đường mòn của thôn. Nay ông T khởi kiện yêu cầu chị phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích lối đi đã lấn chiếm, chị xác định thửa đất của gia đình chị đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, gia đình chị quản lý, sử dụng đúng ranh giới thửa đất của mình, không lấn chiếm lối đi nên chị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - người đại diện của bà Hoàng Thị L2 là bà Nguyễn Thị T2 trình bày: Bà là con dâu của bà Hoàng Thị L2, được bà L2 ủy quyền đại diện tham gia giải quyết vụ án. Bà L2 có một thửa đất ở tại tổ dân phố Đ, thị trấn Tây Yên T. Nguồn gốc thửa đất do nhà nước giao từ năm 1988. Năm 2011, bà L2 tặng lại cho con trai là Hoàng Văn L một phần diện tích thửa đất. Anh L cũng đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BĐ 215469, ngày 12/5/2011, thuộc thửa đất số 00, tờ bản đồ 00, loại đất ở, diện tích 120m². Tuy nhiên, ngoài diện tích nêu trên thì năm 2012, sau khi xây nhà xong còn thừa một phần diện tích đất nên bà L2 tiếp tục tặng cho anh L quản lý, sử dụng. Vì vậy nên diện tích đất anh L hiện đang quản lý sử dụng là nhiều hơn so với GCNQSDĐ.

Do thửa đất có tiếp giáp với lối đi nhỏ của người dân trong thôn nên sau khi nhận đất bà L2 có trồng một cây phượng và chôn các cọc lim làm mốc giới và

4

mành rào dọc lối đi. Quá trình quản lý từ khi được giao đất đến nay không xảy ra tranh chấp với ai. Bà L2 không biết vì lý do gì đến nay ông T lại cho rằng anh Hoàng Văn L lấn chiếm lối đi và khởi kiện ra Tòa án. Nay ông T khởi kiện yêu cầu gia đình anh L phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích lối đi có tranh chấp, ý kiến của bà thống nhất với ý kiến của vợ chồng anh L, chị T4, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn T3 ủy quyền cho chị Nguyễn Thị M đại diện, trình bày thống nhất với ý kiến của chị M.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Vi Thị T4 trình bày: Bà là vợ của ông L. Bà xác nhận đặc điểm, nguồn gốc thửa đất của vợ chồng bà như ông L trình bày là đúng. Trước đây, gia đình bà có mành rào thửa đất phía giáp đường mòn bằng cọc lim, mành tre. Quá trình quản lý, sử dụng không ai có ý kiến gì. Năm 2019, gia đình bà xây dựng nhà ở trên đất thì ông T có ý kiến cho rằng gia đình bà xây dựng nhà ở lấn đường mòn của thôn. Chính quyền địa phương đã giải quyết nhiều lần nhưng các bên không thỏa thuận được. Nay ông T khởi kiện yêu cầu gia đình bà phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích lối đi đã lấn chiếm, bà xác định gia đình bà không lấn chiếm lối đi. Toàn bộ diện tích đất gia đình bà quản lý, sử dụng từ trước đến nay phía giáp lối đi vẫn còn nguyên các cọc lim làm ranh giới. Thửa đất của gia đình bà đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ, gia đình bà quản lý, sử dụng đúng thửa đất của mình nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Hoàng Văn N trình bày: Anh là chồng của chị M. Nguồn gốc thửa đất là do ông nội của vợ anh là Nguyễn Văn T3 tặng cho vợ anh từ năm 2010. Vợ chồng anh có làm nhà, công trình phụ trên đất, nằm trong khuôn viên tường rào mà ông T3 xây dựng trên thửa đất từ trước. Quá trình quản lý, sử dụng không xảy ra tranh chấp với ai. Năm 2012, vợ chồng anh chuyển chỗ ở nên đã giao lại toàn bộ nhà, đất và giấy tờ về đất cho ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964, địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S quản lý, sử dụng. Anh không biết vì lý do gì ông T lại cho rằng gia đình anh xây dựng nhà ở, công trình lấn đường mòn của thôn. Nay ông T khởi kiện yêu cầu vợ anh phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên đất để trả lại diện tích lối đi đã lấn chiếm là 24,9m², anh không chấp nhận. Đối với đường mòn giáp phía Bắc thửa đất của anh nối ra Tỉnh lộ 293 không rõ có từ bao giờ, đây lối đi chung của người dân địa phương. Kích thước lối đi không đồng đều, chỗ rộng, chỗ hẹp, không thẳng tắp và rộng 4m như ông T yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông là chú của chị M, là con đẻ của ông T3. Năm 2012, vợ chồng chị M chuyển chỗ ở nên có giao lại thửa đất và tài sản trên đất cho ông quản lý, sử dụng. Ông xác định thửa đất và nhà cửa, công trình xây dựng trên đất là tài sản của chị M, anh

5

N, ông chỉ trông coi giúp, khi nào chị M, anh N yêu cầu, ông sẽ bàn giao lại cho chị M, anh N. Từ năm 2012 đến nay, ông vẫn quản lý đúng hiện trạng mà chị M bàn giao, không có việc lấn chiếm lối đi của người dân. Nay ông T khởi kiện cho rằng chị M lấn đất là không đúng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị C là vợ và con của ông Nguyễn Huy T ủy quyền cho ông Nguyễn Huy T đại diện, thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Huy T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – đại diện UBND thị trấn T trình bày: Lối đi nhỏ nằm giữa thửa đất của ông L và chị M mà hiện nay ông T đang khởi kiện là lối đi dân sinh nối từ đường tỉnh lộ 291 sang tỉnh lộ 293. Đây là lối đi tắt, đi làm ruộng phục vụ nhu cầu đi lại của người dân địa phương. Diện tích lối đi là đất giao thông công cộng thuộc quyền quản lý của UBND thị trấn T Tử.

Trước năm 2009-2010, UBND thị trấn T Tử không có tài liệu gì để thể hiện diện tích, kích thước của lối đi. Tuy nhiên, thực tế quản lý đất đai và ý kiến của người dân địa phương thì trước nay, lối đi này là lối đi nhỏ có kích thước không đồng đồng đều, chỗ rộng, chỗ hẹp. Từ năm 2010, lối đi này đã được đo đạc, thể hiện diện tích, kích thước, ranh mốc giới trên bản đồ địa chính. Địa phương vẫn quản lý lối đi này theo bản đồ địa chính được xác lập và không nhận được đơn thư gì về việc tranh chấp, lấn chiếm lối đi. Đến năm 2019 mới có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lối đi của ông Nguyễn Huy T.

Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lối đi giữa ông T với ông L, chị M là do gia đình ông T có một thửa đất giáp với lối đi, giáp đất nhà ông L, năm 2019, nhà ông L xây dựng nhà ở, ông T cho rằng lối đi trước kia rộng 4m, do ông L, chị M có đất liền kề lối đi đã lấn chiếm lối đi làm ảnh hưởng tới quyền sử dụng lối đi của mình nên yêu cầu ông L, chị M trả lại diện tích lối đi chung nhưng ông L, chị M không đồng ý, vì vậy các bên xảy ra tranh chấp.

Về GCNQSDĐ của một số hộ gia đình có thể hiện lối đi này là lối đi thẳng rộng 4m, UBND thị trấn T xác định sơ đồ trong GCNQSDĐ trước đây chỉ là bản vẽ thủ công mô phỏng thửa đất chứ không thể hiện đúng hiện trạng của thửa đất cũng như hiện trạng của lối đi tại thời điểm đó. UBND thị trấn T là cơ quan có thẩm quyền quản lý diện tích đất giao thông công cộng trên địa bàn. Quá trình quản lý không phát hiện có vi phạm gì liên quan đến việc lấn chiếm lối đi mà các đương sự đang có tranh chấp. UBND thị trấn T Tử đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – đại diện UBND huyện S trình bày: hồ sơ giao đất, cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất của ông L và thửa đất của bà M phản ánh đúng thửa đất tại thực địa, đúng trình tự, thủ tục về giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sơ đồ trong GCNQSDĐ của ông L

6

GCNQSDĐ của bà M vẫn là bản vẽ thủ công được xác định trên cơ sở sơ đồ của thửa đất của người tặng cho đất, chưa được đo đạc bằng máy móc hiện đại, chưa có hệ tọa độ đối với thửa đất. Sơ đồ chưa thể hiện được chính xác hình dạng, kích thước, diện tích của thửa đất tại thực địa. Trước năm 2009, không có tài liệu gì lưu trữ thể hiện hình dạng, kích thước của lối đi. Năm 2009 địa phương thực hiện việc đo đạc để xác lập bản đồ địa chính thì lối đi này đã được thể hiện trên bản đồ và chính quyền địa phương cũng thực hiện việc quản lý diện tích đất giao thông công cộng theo bản đồ đã được xác lập. Theo đó, đây là lối đi nhỏ, kích thước không đồng đều, chiều rộng từ 1,4m đến 2m.

UBND thị trấn T là cơ quan có trách nhiệm quản lý đường giao thông công cộng không có ý kiến gì về việc lối đi bị lấn chiếm. Kết quả đo đạc đối chiếu với bản đồ địa chính thị trấn T xác định diện tích 29,6m² đất nằm trong thửa đất số 344, tờ bản đồ số 23 của ông L, diện tích 24,9m² nằm trong thửa đất số 345, tờ bản đồ số 23 của chị M. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của ông T là không có căn cứ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 13/6/2023 xác định:

- Lối đi có tranh chấp giữa ông Nguyễn Huy T và ông Hoàng Văn L có tứ cận như sau: Phía Tây Bắc giáp đường 293; phía Đông Bắc giáp đường mòn; phía Tây Nam giáp thửa đất của ông Hoàng văn L3; phía đông Nam giáp đất nhà ông T, lối đi có tranh chấp là Hình C1, diện tích 29,6m² (Có sơ đồ kẻ vẽ kèm theo)

Trên đất có tài sản là một phần bán mái trước nhà, xây tường 10, mái lợp tôn lạnh, một phần nhà cấp 3, 3 tầng, một phần công trình phụ vệ sinh khép kín, nhà bếp đổ trần trên có lợp tôn chống nóng, một số cột lim chôn chân dọc thửa đất là tài sản của ông Hoàng Văn L.

- Lối đi có tranh chấp giữa ông Nguyễn Huy T và chị Nguyễn Thị M có tứ cận như sau: Phía Tây Bắc giáp đường 293; phía Đông Bắc giáp thửa đất của chị M; phía Tây Nam giáp đường mòn; phía đông Nam giáp đất nhà ông T3, là Hình C2, diện tích 24,9m² (Có sơ đồ kẻ vẽ kèm theo)

Trên đất có tài sản là đoạn tường rào dài 22,3m, cao 1,23m, diện tích 27,6m2, một phần bán mái trước nhà, lợp tôn, cột sắt; một phần ngôi nhà tạm loại A, một phần bán mái lợp tôn phía sau nhà, một phần bể nước, một phần nhà vệ sinh, nhà tắm là tài sản của gia đình chị M.

Kết quả đo đạc đối chiếu với bản đồ địa chính thị trấn T xác định diện tích 29,6m² đất nằm trong thửa đất số 344, tờ bản đồ số 23 của ông Hoàng Văn L, diện tích 24,9m² nằm trong thửa đất số 345, tờ bản đồ số 23 của chị Nguyễn Thị M.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/TCDS-ST ngày 27/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động đã: căn cứ Điều 166, Điều 170

7

của Luật Đất đai 2013; Điều 169, Điều 174, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật D. Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Huy T về việc yêu cầu ông Hoàng Văn L phải trả diện tích 29,6m², bà Nguyễn Thị M trả lại diện tích 24,9m² và yêu cầu di dời tài sản trên lối đi có tranh chấp

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 31/10/2023, ông T kháng cáo bản án, với nội dung: đề nghị xem xét sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Luật sư K bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T trình bày ý kiến tranh luận, căn cứ vào các GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà B, ông T3, chị M, bà L2, ông L cũng như kết quả đo vẽ của cán bộ địa chính xã, văn bản trả lời của UBND thị trấn T, kết quả đo đạc bản đồ của Toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, lời khai của những người sống lâu năm tại khu vực đất này gồm bà Phạm Thị T6, ông Vi Văn T7 thì có căn cứ khẳng định lối đi chung này có chiều rộng 4m như yêu cầu khởi kiện của ông T7. Toà án sơ thẩm đánh giá chứng cứ không đảm bảo, chưa có đủ căn cứ để đánh giá các tình tiết của vụ án. Đề ghị Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại.

Ông T7 nhất trí với đề nghị của Luật sư K, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm do tôi kháng cáo toàn bộ bản án.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, một số đương sự vắng mặt tại phiên toà không có lý do, chưa chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông T7, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng cáo của ông T7, huỷ bản án sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo gồm: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị L2, ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Văn S, chị Nguyễn Thị C vắng mặt nhưng người đại diện có mặt;

8

ông Nguyễn Văn H, người đại diện UBND thị trấn T, đại diện UBND huyện S đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Xét kháng cáo của ông T7, HĐXX thấy:

Ông T7 xác định lối đi nối từ đường tỉnh lộ 293 sang tỉnh lộ 291 là lối đi chung của người dân trong thôn có từ xưa, kích thước lối đi rộng khoảng 4m. Do ông L, chị M xây dựng nhà ở, công trình phụ, tường rào lấn chiếm nên lối đi bị thu hẹp lại làm ảnh hưởng tới quyền sử dụng lối đi của ông và người dân. Ông T7 giao nộp 02 bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) của ông Nguyễn Văn T3 và bà Nguyễn Thị B1 có sơ đồ thể hiện cạnh giáp với đường đi rộng 4 mét; 01 bản phô tô GCNQSDĐ của bà Hoàng Thị L2 có sơ đồ thể hiện cạnh giáp đường mòn và 01 giấy xác nhận của ông Vi Văn T7 (Trưởng thôn Nòn năm 2010) về việc năm 2010 có xảy ra tranh chấp lối đi.

Bị đơn ông L, chị M xác định gia đình vẫn quản lý, sử dụng đúng với ranh giới đất đã được xác lập từ trước, không có việc lấn chiếm, lối đi vẫn giữ nguyên hiện trạng như trước, lối đi nhỏ kích thước không đồng đều.

Chính quyền địa phương khẳng định lối đi dân sinh hiện đang có tranh chấp là lối đi nhỏ có kích thước không đồng đều, chỗ rộng, chỗ hẹp. Ranh giới lối đi với thửa đất các hộ liền kề đã được đo đạc và thể hiện trên bản đồ địa chính của thị trấn T Tử. Quá trình quản lý không phát hiện lối đi bị lấn chiếm. Hồ sơ giao đất, cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất của ông L và thửa đất của bà M phản ánh đúng thửa đất tại thực địa, đúng trình tự, thủ tục.

[3]. Tòa án sơ thẩm xác định việc ông T7 căn cứ vào 03 bản phô tô GCNQSDĐ của ông T3 và bà B1, chị M có sơ đồ thể hiện cạnh giáp với đường đi rộng 4 mét; 01 bản phô tô GCNQSDĐ của bà L2 có sơ đồ thể hiện cạnh giáp đường mòn để chứng minh lối đi chung rộng 4 mét là không có cơ sở với lý do UBND huyện S là cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ xác định sơ đồ trong GCNQSDĐ là bản vẽ thủ công, không thể hiện đúng hình dạng, kích thước của thửa đất cũng như lối đi. 01 giấy xác nhận của ông T7 chỉ có nội dung xác nhận việc năm 2010 ông T7 có đơn đề nghị giải quyết việc ông T3, bà L2 lấn chiếm lối đi, chính quyền thôn đã tiến hành hòa giải, các bên nhất trí sử dụng đất theo GCNQSDĐ được cấp mà không chứng minh việc ông T3, bà L2 lấn chiếm lối đi hay không để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T7 là chưa đảm bảo .

[4]. HĐXX thấy chưa có đủ căn cứ xác định lối đi chung mà ông T7 đang có tranh chấp có chiều rộng 4m, việc cấp các GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T3 năm 2004 và gia đình bà Nguyễn Thị B1 (vợ ông T7) năm 2009 không đúng hiện trạng sử dụng đất, không đúng hiện trạng lối đi các hộ, các GCNQSDĐ trên đều thể hiện sơ đồ thửa đất có đường ngõ xóm rộng 4m. Ngày 16/6/2010, ông T3 tặng cho chị Nguyễn Thị Mai m phần QSDĐ có diện tích 97,2

9

m²; ngày 02/8/2010 chị M được cấp GCNQSDĐ vẫn thể hiện đường đi có chiều rộng là 4m trong khi các thửa đất này đã có bản đồ địa chính đo đạc năm 2009 thể hiện đường ngõ này không có đủ chiều rộng 4m. Toà án sơ thẩm chưa thu thập đủ tài liệu, chứng cứ để đánh giá tính hợp pháp của các GCNQSDĐ nêu trên và việc cấp các GCNQSDĐ trên có xâm phạm đến quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị M và hộ gia đình bà Nguyễn Thị B1 hay không làm căn cứ giải quyết vụ án là chưa đảm bảo.

[5]. Mặt khác, căn cứ vào kết quả đo đạc tại cấp phúc thẩm thấy: hiện trạng ông L đang quản lý sử dụng diện tích đất 141,6 m² có chiểu rộng phía trước là 5,02m, chiều rộng phía sau là 6,5m trong khi GCNQSDĐ cấp cho ông L được sử dụng diện tích 120 m² có chiều rộng trước và sau đều là 5m; diện tích bà M đang quản lý, sử dụng 127,2 m² chiều rộng phía trước 5,3 m², chiều rộng phía sau là 1,9m, chiều dài cạnh giáp đường tranh chấp là 30m và là một đường cong trong khi GCNQSDĐ cấp cho chị M được quyền sử dụng diện tích 97,2 m² chiều rộng phía trước 5,3 m², chiều rộng phía sau là 2,8 m, cạnh giáp đường đang tranh chấp dài 24m và là một đường thẳng. Toà án sơ thẩm không thu thập các tài liệu chứng cứ để làm rõ sự biến động về diện tích và hình thể thửa đất làm căn cứ giải quyết vụ án là chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm quy định tại Điều 93 của BLTTDS

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy Toà án sơ thẩm thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ nên cần huỷ bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự

[6]. Về án phí và chi phí tố tụng: căn cứ khoản 3 Điều 148 của BLTTDS các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí và chi phí tố tụng sẽ được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Huy T. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2023/TCDS-ST ngày 27/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: sẽ được quyết định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

10

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hà Giang

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/DS-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp lối đi

  • Số bản án: 153/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP LỐI ĐI
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger