|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 153/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10-6-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Kha
Ông Nguyễn Hồng Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Tô Thị T, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Nơi Thường trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Hiện chị T đang lao động tại Đài Loan).
Đại diện theo ủy quyền của chị T giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: A đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương (văn bản ủy quyền ngày 29/12/2023, không triệu tập anh T1).
-
Bị đơn: Anh Lương Văn C, sinh năm 1994 (vắng mặt)
Nơi Thường trú và địa chỉ cuối cùng của anh C tại Việt Nam: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Hiện anh C đang lao động ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai đề ngày 29/12/2024 (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn chị Tô Thị T trình bầy:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh C được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 30/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng gia đình anh C tại thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên tháng 5 năm 2018 chị và anh C đi lao động tại Đài Loan. Sau khi sang Đài Loan thì chị và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh C ngoại tình, có quan hệ với người phụ nữ khác ở bên ngoài, bất đồng về quan điểm sống, chi tiêu trong gia đình và nuôi dạy con cái. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng chị đã nhiều lần nói chuyện với nhau với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng về quan điểm quá lớn nên không có kết quả, hai bên gia đình đã nói chuyện, khuyên giải để vợ chồng chị đoàn tụ nhưng không đạt kết quả. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lương Văn C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là cháu Lương Gia B, sinh ngày 29/8/2015, hiện cháu B đang sống cùng với ông bà ngoại tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B và đề nghị tạm giao cháu B ông bà ngoại nuôi dưỡng trong thời gian chị ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh Lương Văn C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị T trình bầy: Chị đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên. Chị ủy quyền cho anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: A đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
Anh Lương Văn C là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N trình bầy: Bà là mẹ chị Tô Thị T, bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lương Gia B là con của chị T và anh C, chồng bà là ông Tô Văn T2 do bận công việc nên không có thời gian chăm sóc cho cháu B. Nay bà đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B trong thời gian chị T ở nước ngoài cho đến khi chị T về nước, bà không có yêu cầu gì khác.
Cháu Lương Gia B trình bày: Cháu là con bố Lương Văn C và me Tô Thị T, hiện cháu sống cùng bà ngoại là Bùi Thị N. Nay bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ.
Ngày 02/4/2024 và ngày 19/4/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh với người thân của anh Lương Văn C là ông Lương Văn Đ (bố anh C), sinh năm 1971, địa chỉ thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang, ông Đ cung cấp: Chị T và anh C kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T và anh C chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 chị T và anh C cùng nhau đi lao động tại Đài Loan, ông Đ có nghe anh C nói lại việc chị T và anh C phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019, nguyên nhân là do chị T có quan hệ với người khác, anh C đã nhắc nhở nhiều lần nhưng chị T không thay đổi dẫn đến rạn nứt tình cảm. Từ năm 2018 đến nay chị T không liên lạc, hỏi thăm gia đình ông Đ. Gia đình hai bên đã tiến hành động viên, hòa giải cho chị T và anh C nhưng không đạt kết quả và chị T tự ý đơn phương làm đơn xin ly hôn. Chị T và anh C có 01 con chung là cháu Lương Gia B, sinh ngày 29/8/2015, hiện cháu B đang sống cùng với bố, mẹ chị T.
Về cung cấp địa chỉ của anh C ở nước ngoài: Anh C hiện đang lao động tại Đài Loan, gia đình ông Đ vẫn liên lạc với anh C qua mạng xã hội. Tuy nhiên, gia đình ông Đ không cung cấp cho Tòa án địa chỉ của anh C ở Đài Loan mà đề nghị Tòa án yêu cầu chị T cung cấp địa chỉ của anh C và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Tô Thị T và bà Bùi Thị N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lương Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Tô Thị T, bà Bùi Thị N, biên bản lấy lời khai cháu Lương Gia B, biên bản làm việc với ông Lương Văn Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Tô Thị T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Bùi Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh Lương Văn C không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
Về hôn nhân: Cho chị Tô Thị T được ly hôn anh Lương Văn C.
Về nuôi con chung: Giao cháu Lương Gia B, sinh ngày 29/8/2015 cho chị Tô Thị T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cho bà Bùi Thị N nuôi dưỡng trong thời gian chị T ở nước ngoài.
Về án phí: Chị Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Tô Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Lương Văn C và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Anh C hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể của anh C. Theo Công văn số: 5663/QLXNC-P3 ngày 20/3/2024 của Cục Q - Bộ C1 cung cấp, anh Lương Văn C xuất cảnh ngày 06/5/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có bị đơn anh C hiện nay đang ở nước ngoài. Địa chỉ cuối cùng của anh C ở Việt Nam tại: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về việc vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn chị Tô Thị T, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N vắng mặt và đều xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Tô Thị T, bà Bùi Thị N.
Đối với bị đơn anh Lương Văn C: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn, ông Đ (là bố anh C), Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh C trước khi xuất cảnh ở Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh C thông qua người thân của anh C là ông Lương Văn Đ (bố anh C) và đề nghị ông Đ thông báo cho anh C biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Tô Thị T và bị đơn là anh Lương Văn C. Ông Đ cho biết anh C vẫn liên lạc về gia đình, nhưng anh C không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh C tại nước ngoài, do chị T làm đơn ly hôn đơn phương nên chị T phải có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của anh C tại Đài Loan. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị T và anh Lương Văn C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 30/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh C chung sống hạnh phúc đến năm 2018 chị T, anh C đi lao động tại Đài Loan, từ đó vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Lương Văn C.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Tô Thị T đối với anh Lương Văn C. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị T và anh C chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2018 chị T và anh C cùng nhau đi lao động tại Đài Loan, từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên đã tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả. Chị T và anh C hiện không còn quan tâm, không còn liên lạc với nhau nữa. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị T, anh C không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C, xử cho chị Tô Thị T được ly hôn anh Lương Văn C như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[4]. Về nuôi con chung: Chị T và anh C có 01 con chung là cháu Lương Gia B, sinh ngày 29/8/2015. Sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu B và đề nghị tạm giao cháu B cho bà Bùi Thị N nuôi dưỡng trong thời gian chị T ở nước ngoài. Bà N (mẹ chị T) trình bầy đồng ý nuôi dưỡng cháu B trong thời gian chị T ở nước ngoài, cháu B có nguyện vọng được ở cùng mẹ.
Xét yêu cầu của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Hiện cháu B đang sống cùng với bà N (mẹ chị T), cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Anh C và chị T hiện đang lao động ở Đài Loan. Chị T có nguyện vọng nuôi con chung và đề nghị bà N chăm sóc con chung trong thời gian chị chưa về Việt Nam. Cháu B có nguyện vọng được sống cùng với chị T, bà N đồng ý nuôi dưỡng cháu B trong thời gian chị T lao động ở nước ngoài. Để đảm bảo cho con chung phát triển bình thường, tránh xáo trộn về cuộc sống, môi trường học tập của con chung cũng như điều kiện thực tế. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T. Giao cháu Lương Gia B cho chị Tô Thị T nuôi dưỡng sau khi ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Lương Gia B cho bà Bùi Thị N nuôi dưỡng trong thời gian chị T ở nước ngoài là phù hợp quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của cháu B cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn anh C không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp anh C về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[5].Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6].Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7].Về án phí: Chị Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[8]. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn chị Tô Thị T, bị đơn anh Lương Văn C đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị N đang ở trong nước vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Chị Tô Thị T được ly hôn anh Lương Văn C.
-
Về nuôi con chung: Giao cháu Lương Gia B, sinh ngày 29/8/2015 cho chị Tô Thị T nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, nhưng tạm giao cháu Lương Gia B cho bà Bùi Thị N nuôi dưỡng trong thời gian chị T ở nước ngoài.
Sau khi ly hôn anh Lương Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.
-
Về án phí: Chị Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001060 ngày 06/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tô Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo bản án: Chị Tô Thị T, anh Lương Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bà Bùi Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 153/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 153/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị T và anh C
