|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
|
Bản án số: 153/2024/HSST Ngày: 02/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến và bà Hoàng Thị Cát Phương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về việc dời thời gian xét xử vụ án hình sự số 133/TB-TA ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lý Vũ P, sinh năm 1999 tại tỉnh Cà Mau.
Nơi đăng ký HKTT: ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơme
Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Công nhân
Con ông Lý Minh T, Sinh năm 1973 và bà Đoàn Thị S Sinh năm 1960
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16 tháng 10 năm 2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N.
- Bị hại: Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 2008; địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Trần Văn P1, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Hoài T2 Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đ
(Bị cáo; Đại hợp pháp của bị hại ông P1 và bà Đ; Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại bà T2 có mặt. Bị hại cháu T1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 3 tháng 2023 đến giữa tháng 6 năm 2023, Lý Vũ P đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nguyễn Thị Mỹ T1 tại phòng trọ thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Khoảng giữa tháng 6/2023, T1 có những biểu hiện khác thường giống việc có thai nên ông P1 và bà Đ là cha mẹ ruột của cháu T3 đưa cháu T1 đi khám và phát hiện cháu T1 đã có thai được hơn 06 tuần tuổi nên ngày 12 Tháng 7 năm 2023 ông P1 đã đến trình báo Công an xã P, đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Lý Vũ P đã đến Công an xã P đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Sonic biển số 83C1-769.80 của Lý Vũ P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lý Vũ P.
Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em bị số 0765/KLTDTE-TTPYĐN ngày 27/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận về tình trạng tổn thương bộ phận sinh dục của cháu Nguyễn Thị Mỹ T1 như sau: Màng trinh hình khe, đường kính lỗ trinh 01cm. Màng trinh rách cũ vị trí 03 giờ, bờ mép vết rách không phù nề, không xung huyết, không chảy máu. Kết quả siêu âm tại Bệnh viện Đ1 ngày 24/7/2023 một thai # 08 tuần 05 ngày sống trong tử cung/ tụ dịch cạnh túi thai.
Tại kết luận giám định số 5304/KL-KTHS ngày 18/8/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ C kết luận: Nguyễn Thị Mỹ T1 và mô thai nhi thu trong lòng tử cung của Nguyễn Thị Mỹ T1 có quan hệ huyết thống mẹ - con; Lý Vũ P và mô thai nhi thu trong lòng tử cung của Nguyễn Thị Mỹ T1 có quan hệ huyết thống cha – con.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, Đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Văn P1 và ba Nguyễn Hồng Đ yêu cầu bị cáo Lý Vũ P bồi thường số tiền 80.000.000 đồng về tổn thất tinh thần, danh dự nhân phẩm và sức khỏe cho cháu T1.
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, Cơ quan điều tra Công an huyện N đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lý Vũ P để điều tra.
Quá trình điều tra Nguyễn Trung K khai nhận: Khoảng tháng 7/2022, Lý Vũ P và cháu Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2008, nơi cư trú tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai quen biết với nhau trong quá trình cháu T1 học nghề tại tiệm cắt tóc “Thúy Nga” thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Sau khi nảy sinh tình cảm, đến khoảng giữa tháng 3/2023, T1 rủ P đến phòng trọ tại ấp B, xã P chơi. Khi P đến phòng trọ của T1 thì T1 đưa chìa khóa cho P mở cửa vào phòng, do khi đi làm mẹ T1 đã khóa cửa ở ngoài. Tại đây, P và T1 ngồi lên nệm trên giường sắt vị trí gần cửa sổ ôm hôn nhau, được một lúc P dùng tay sờ và dùng miệng hôn vào ngực của T1 rồi cả hai nằm xuống nệm. P tiếp tục dùng tay sờ xuống âm đạo của T1 và dùng tay cởi quần của T1 và P ra rồi thực hiện hành vi giao cấu với T1 khoảng 10 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo của T1. Quan hệ tình dục xong, P và T1 ôm nhau ngủ đến sáng hôm sau. Do sợ có thai nên T1 nói với P ra hiệu thuốc mua thuốc tránh thai cho T1 uống. Từ tháng 3/2023 đến giữa tháng 6/2023, P và T1 đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại phòng trọ của T1, lần cuối cùng vào khoảng giữa tháng 6/2023, sau đó T1 có những biểu hiện khác thường giống việc có thai nên cha, mẹ T1 đưa T1 đi khám và phát hiện đã có thai được hơn 06 tuần tuổi nên ngày 12/7/2023 ông P1 đã đến trình báo Công an xã P, đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Lý Vũ P đã đến Công an xã P đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Lý Vũ P về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố tại bản cáo trạng và phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị căn cứ điểm a, d khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung 2017) xử phạt bị cáo Lý Vũ P từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án tuyên buộc bị cáo phải bồi thiệt hại cho gia đình cháu T1 theo quy định của pháp luật.
- Đại diện cho bị hại ông Trần Văn P1 và bà Nguyễn Hồng Đ thống nhất trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lý Vũ P về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” khi cha mẹ vắng nhà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, về mực hình đối với bị cáo P là quá nhẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử tăng nặng hình phạt đối với bị cáo.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại bà T2 trình bày: Thống nhất với bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lý Vũ P về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo với một mức án nghiêm.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, Đại diện phía bị hại yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường về tổn thất sức khỏe, nhân phẩm, danh sự và các chi phí phát sinh sau khi xảy ra sự việc cho bị hại với số tiền là 80.000.000 đồng.
- Bị cáo Lý Vũ P không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho người bị hại Nguyễn Thị Mỹ T1 với số tiền là 80.000.000 đồng và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, cơ quan truy tố; Hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai trong hồ sơ nên căn cứ Điều 292 xét xử vắng mặt Bị hại.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 3 tháng 2023 đến giữa tháng 6 năm 2023 tại tại phòng trọ thuộc ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai Lý Vũ P đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2008 là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, làm cho cháu T1 có thai.
Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Lý Vũ P đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Xét hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng do dục vọng, lợi dụng sự chưa chín chắn trong tình dục của người bị hại để thực hiện hành vi giao cấu với người bị hại mặc dù được người bị hại đồng ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, ảnh hưởng đến tâm sinh lý và sự phát triển bình thường của cháu Nguyễn Thị Mỹ T1 được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội 02 lần trở lên” và “Làm nạn nhân có thai” nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người dân tộc thiểu số; trình độ học vấn thấp; nhận thức về pháp luật còn hạn chế; có bà ngoại là người có công với cách mạng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cũng để thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử đại diện hợp pháp của người bị hại ông P1 và bà Đ yêu cầu bị cáo P bồi thường thiệt hại về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho người bị hại Nguyễn Thị Mỹ T1 với số tiền là 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo P đồng ý bồi thường cho người bị hại số tiền 80.000.000 đồng.
Xét yêu cầu về việc bồi thường thiệt hại của đại diện hợp pháp của người bị hại thì thấy rằng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự năm 2015 thì mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Theo quy định tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định về mức lương cơ sở thì tính từ ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng, cụ thể là: 10 x 2.340.000 đồng = 23.400.000 đồng (hai mươi ba triệu bốn trăm nghìa đồng). Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại số tiền 80.000.000 đồng. Việc bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại là hoàn toàn tự nguyện và có lợi cho người bị hại nên được chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Xét quan điểm của Đại diện cho bị hại ông P1 và bà Đ về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là quá nhẹ và đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo là chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của của bị cáo, chưa thể hiện thể hiện tính nhân đạo, chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần.
[7] Xét quan điểm của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Tuy nhiên về mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo là quá nặng, chưa phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của của bị cáo, chưa thể hiện thể hiện tính nhân đạo, chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lý Vũ P phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Bị cáo Lý Vũ P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 16 tháng 10 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 584, 585, 586, 590, 592 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lý Vũ P phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Mỹ T1 số tiền là 80.000.000 đồng.
Kể từ ngày bị hại Nguyễn Thị Mỹ T1, đại diện hợp pháp của người bị hại ông Trần Văn P1 và bà Nguyễn Hồng Đ có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Lý Vũ P chậm thi hành án đối với khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lý Vũ P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thầm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tiến Trung |
Bản án số 153/2024/HSST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (vụ án hình sự)
- Số bản án: 153/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giao cau
