Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HS-PT

Ngày: 01-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Ông Phạm Minh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 118/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1982, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Tuấn Hai M; Nơi cư trú: 288 KDC ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc M1 và con bà Nguyễn Thị Á; Có vợ và 02 người con; Tiền án: Ngày 20/9/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2009, chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường dân sự, chưa được xóa án tích. Ngày 01/12/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/11/2012, chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường dân sự, chưa được xóa án tích. Ngày 09/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/7/2016, chưa nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng nộp phạt bổ sung, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại: 288 KDC ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị cáo Lê Văn N; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát cũng không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 13/02/2023, Nguyễn Thanh T, Lê Văn N, Đỗ Kinh L, Bùi Phước T1, Nguyễn Duy T2, Cao Văn Tuấn V, Phan Văn P, Ngô Thanh S, Nguyễn Duy H, Đặng Nhật L1, Nguyễn Hồng S1 đến quán nước giải khát do Nguyễn Văn N1 làm chủ thuộc ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để uống nước và sau đó diễn ra đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài cát tê và lắc bầu cua. Đỗ Kinh L là người mang theo bộ lắc bầu cua và trực tiếp làm cái cho Nguyễn Thanh T, Lê Văn N, Bùi Phước T1, Nguyễn Duy T2, Cao Văn Tuấn V tham gia đặt tiền; mỗi ván lắc bầu cua người đặt cược ít nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. L dùng 200.000 đồng làm cái 05 - 06 ván, thua 110.000 đồng, T dùng 100.000 đồng đặt 03 ván, thua 80.000 đồng, N dùng 70.000 đồng đặt 03 ván, thua 50.000 đồng, T1 dùng 70.000 đồng đặt khoảng 02 ván, không thắng không thua, T2 dùng 10.000 đồng đặt 01 ván, thua 10.000 đồng.

Cùng thời gian và địa điểm nêu trên, Phan Văn P, Ngô Thanh S, Nguyễn Duy H, Đặng Nhật L1, Nguyễn Hồng S1, Nguyễn Văn N1 tham gia chơi đánh bài cát tê. Hình thức chơi mỗi người đặt vào 10.000 đồng để trên chiếu bạc, ai thắng sẽ lấy 10.000 đồng trong số tiền đã đặt đến khi nào hết tiền thì tiếp tục đặt tiền vào. Phan Văn P dùng 30.000 đồng tham gia 03 ván, thua 30.000 đồng, Ngô Thanh S dùng 20.000 đồng tham gia 03 ván và mua bộ bài tây 5.000 đồng, thua 10.000 đồng, Nguyễn Duy H dùng 40.000 đồng tham gia 04 ván, thắng 10.000 đồng, Đặng Nhật L1 dùng 10.000 đồng tham gia 04 ván, không thắng không thua, Nguyễn Hồng S1 dùng 10.000 đồng tham gia 02 ván, không thắng không thua, Nguyễn Văn N1 dùng 30.000 đồng tham gia 03 ván, thua 30.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì bị Công an bắt quả tang. Riêng T, L và V bỏ chạy khỏi hiện trường.

Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua; 52 lá bài tây đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 100.000 đồng trên chiếu bạc đánh bài cát tê.

Tạm giữ trên người của Lê Văn N 20.000 đồng và 01 điện thoại di động; Bùi Phước T1 950.000 đồng và 01 điện thoại di động; Nguyễn Duy T2 5.200.000 đồng và 01 điện thoại di động; Phan Văn P 700.000 đồng và 01 điện thoại di động; Ngô Thanh S 100.000 đồng; Nguyễn Duy H 9.500.000 đồng và 01 điện thoại di động; Đặng Nhật L1 4.600.000 đồng và 01 điện thoại di động; Nguyễn Hồng S1 600.000 đồng và 01 điện thoại di động; Huỳnh Thị Lan L2 20.000 đồng và 01 điện thoại di động, Phạm Công T3 9.000.000 đồng và 01 điện thoại di động. Các tài sản này, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho người liên quan. Riêng số tiền 20.000 đồng và 01 điện thoại di động của N, tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2024/HS-ST ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung đã quyết định:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và

3

Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) tháng tù cũng về tội “Đánh bạc”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 04 tháng 4 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo với nội dung giảm giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo T.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phạm và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Nguyễn Thanh T có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích. Đến ngày 13/02/2023, T và N tiếp tục tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức lắc bầu cua tại quán nước giải khát của Nguyễn Văn N1 ở ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì bị bắt quả tang.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Thanh T có đến 03 tiền án trong đó có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền như đã nêu trên nên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà án sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị

4

cáo gây ra, đã cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ và đã áp dụng mức hình phạt đầu khung đối với bị cáo. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết, chứng cứ gì mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[4] Xét lời phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Nguyễn Thanh T là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh T phải án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thanh T. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
    • Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tinh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - TAND huyện Lai Vung (03 bản);
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - CQCSĐT CA huyện Lai Vung;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - CQTHAHS CA huyện Lai Vung;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Khắc Thịnh

5

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HS-PT ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 153/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger