Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2025/HSST

Ngày: 30/10/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai

Ông Trần Ngọc Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên toà:

Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu phòng xét xử trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội và Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 111/2025/TLST–HS, ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Chiến T

Giới tính: Nam

Sinh năm: 1996

Tên gọi khác: Không

 

Nơi thường trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố Hải Phòng

Nơi ở hiện tại: Phố H, phường N, TP Hà Nội

Quốc tịch: Việt Nam

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

 

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ học vấn: 12/12

Họ tên cha: Phan Thanh H1

 

Họ tên mẹ: Bùi Thị Thúy H

 

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ: 18/06/2025

Tạm giam: 24/06/2025

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội.

(Bị cáo có mặt tại điểm cầu Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Thúy H. Sinh năm 1963.

1

HKTT: phố N, phường H, TP Hà Nội. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:

Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 17/6/2025, tổ công tác Công an phường N trong khi làm nhiệm vụ tại trước cửa phố Đ, phường N, thành phố Hà Nội phát hiện Phan Chiến T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T đã tự nguyện giao nộp 01 túi nilong màu trắng kích thước (04x07)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng ở trong túi quần sóoc phía trước bên trái. Tại chỗ, T khai nhận là ma túy “đá”, đang chờ người mua ma túy đến để bán. Tổ công tác đã đưa T cùng toàn bộ tang vật về trụ sở làm rõ.

Thu giữ của Phan Chiến T:

  • - 01 túi nilong màu trắng kích thước (4x7)cm, bên trong có chứa tinh thể.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, đã qua sử dụng, có IMEI1: 354692273339156; IMEI2: 35469227333915 bên trong có 01 sim số: 0984767728.
  • - 01 xe máy Piaggio Vespa màu trắng mang biển kiểm soát 29C1 -007.36, số khung RP8M66101AV001445; số máy M661M29504, đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 3584/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,972 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Chiến T khai nhận: T không có công việc ổn định và thường xuyên sử dụng ma tuý. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên T đã nảy sinh ý định mua ma tuý về bán lại kiếm lời. Sáng ngày 16/6/2025, thông qua ứng dụng mạng xã hội Telegram, T đã liên hệ hỏi mua một người không quen biết (T không nhớ thông tin tên tài khoản) 1.000.000 đồng tiền ma tuý “đá”. Người này đồng ý và yêu cầu T chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản số 801307 mang tên “HO KINH DOANH NHA ONG HAI” mở tại Ngân hàng TMCP P (O). Sau khi T chuyển tiền mua ma túy, đến khoảng 04 giờ sáng ngày 16/6/2025 thì người này liên hệ với T nói để ma tuý tại cột điện đầu ngõ 209 phố Đ và bảo T ra lấy. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà cất giấu và chia lấy một phần để sử dụng cho bản thân, phần còn lại trong túi với mục đích có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 17/6/2025, T nhận được điện thoại từ số thuê bao 0332527838 gọi vào số điện thoại 0984.767.xxx của T để hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy “đá”. T đồng ý, yêu cầu người mua thanh toán tiền vào tài khoản của T số 19035673017011 tại Ngân hàng TMCP K (T). Người mua ma túy đã chuyển cho T số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số 19033869000015 mang tên “NGUYEN CONG HANH” tại Ngân hàng T cho T. Sau khi nhận được tiền, T lấy túi nilon ma tuý “đá” cất vào túi quần soóc phía trước bên trái đang mặc rồi đi xe máy Piaggio Vespa mang BKS 29C1-007.36 từ nhà phố H ra đầu phố Đ để bán ma tuý. Khi T đi đến trước cửa số nhà 26 phố Đ, phường

2

N, TP Hà Nội thì bị Tổ công tác của Công an phường N dừng xe yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ của T 01 túi ma túy như đã nêu trên.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Vespa, màu trắng, biển kiểm soát 29C1 - 007.36, số khung 001445; số máy M661M29504: Quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký xe là anh Nguyễn Hoàng L (Sinh năm 1989; HKTT: phố P, phường H, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra anh L trình bày: Năm 2011 mua và đứng tên đăng ký chiếc xe máy trên. Đầu năm 2025, anh L đã bán chiếc xe trên cho bà Bùi Thị Thuý H (Sinh năm 1963; HKTT: phố N, phường H, TP Hà Nội). Chị H khi phù hợp với lời khai của anh L, sau khi mua chiếc xe trên, bà H để ở nhà để sử dụng, việc T (là con bà H) sử dụng chiếc xe trên để mua bán ma túy bà H không biết. Ngày 12/9/2025, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả chiếm xe máy trên cho bà Bùi Thị Thúy H, xét là có căn cứ.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho T: Quá trình điều tra xác định tài khoản số 801307 mang tên “HO KINH DOANH NHA ONG HAI” mở tại Ngân hàng TMCP P (OCB). Tại Cơ quan điều tra, anh Võ Văn Anh T (Sinh năm 1971) vợ là chị Nguyễn Thị Bích H (Sinh năm 1975); cùng HKTT: Thôn L, phường B, tỉnh Đắk Lắk) trình bày: Tháng 2/2025, gia đình ông có đăng ký mở tài khoản 801307 của hộ kinh doanh lấy tên là “HO KINH DOANH NHA ONG HAI”. Đến tháng 4/2025, do bị mất điện thoại có đăng tải ứng dụng ngân hàng số tài khoản trên nên hộ kinh doanh ông H không sử dụng số tài khoản này nữa và chưa làm thủ tục khóa tài khoản. Các giao dịch tại ngân hàng từ tháng 5/2025 đến nay anh T, chị H không biết. Ngoài ra, việc mua bán ma túy của T không gặp trực tiếp, chỉ liên hệ qua mạng xã hội Telegram, do đó không xác định đối tượng đã bán ma túy cho T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Đối với đối tượng mua ma túy T: Quá trình điều tra xác định số điện thoại 0332.527.xxx đứng tên thuê bao là chị Hồ Linh C (Sinh năm 1999; Nơi ở: Phố T, phường T, Hà Nội). Chị C trình bày không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên. Xác minh tài khoản số 19033869000015 tại Ngân hàng T mang tên Nguyễn Công H (Sinh năm 1975; HKTT: phố N, phường N, Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra anh H trình bày đăng ký và mở số tài khoản trên, do anh H buôn bán cửa hàng tạp hóa nên việc chuyển khoản và nhờ chuyển tiền diễn ra thường xuyên, anh H không biết giao dịch Phan Chiến T chuyển tiền cho anh H. Do đó, không xác định đối tượng mua ma túy của T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 103/CT-VKS ngày 26/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội đã truy tố Phan Chiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố và mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bà H không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung. Tịch

3

thu tiêu hủy số ma túy, tịch thu sung công 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo, buộc bị cáo giao nộp 500 nghìn đồng thu lợi bất chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an phường N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Chiến T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 17/6/2025, tại trước cửa số 26 phố Đ, phường N, thành phố Hà Nội, bị cáo Phan Chiến T có hành vi cất giấu 0,972 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích bán lại để kiếm lời thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

  1. [3] Về tình tiết tăng nặng: Không.
  2. [4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo “thành khẩn khai báo”, ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
  3. [5] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý. Tệ nạn ma tuý đã và đang huỷ hoại sức khoẻ, nhân cách của nhiều người, là hiểm họa, đe dọa đến cuộc sống bình yên của mọi người, mọi nhà và toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự. Đồng thời, ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới HIV/AIDS. Bị cáo nhận thức rõ được việc mua bán các chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn phạm tội, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù, cách ly với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, HĐXX cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung. Tịch

4

thu tiêu hủy số ma túy, tịch thu sung công 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo, buộc bị cáo giao nộp 500 nghìn đồng thu lợi bất chính.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo và 01 sim điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, có IMEI1: 354692273339156; IMEI2: 35469227333915 đã qua sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
  • - Truy thu số tiền 500 nghìn đồng bị cáo thu lợi bất chính.

[7] Các vấn đề khác:

  • - Bà Bùi Thị Thúy H đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không giải quyết.
  • - Các đối tượng mua, bán ma túy với bị cáo do không xác định được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên HĐXX không xem xét.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Chiến T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Phan Chiến T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/06/2025.

  1. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu tiêu hủy 0,972 gam ma túy loại Methamphetamine (PC09 trích lấy mẫu 0,047 gam, còn lại 0,925 gam) và 01 sim điện thoại cũ, đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax 128GB màu xanh, có IMEI1: 354692273339156; IMEI2: 35469227333915, đã qua sử dụng
    • (Số vật chứng trên được mô tả cụ thể và hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2025).
    • - Buộc bị cáo Phan Chiến T phải nộp lại 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng tiền thu lợi bất chính.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

5

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND KV1 – Hà Nội;
  • - Công an phường N;
  • - Chi cục THA DS KV1 – Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thu Hương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2025/HSST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 153/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger