|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 153/2025/HS-PT Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu
Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông
Bà Hà Thị Thanh Nữ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 539/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo Danh Quành N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 268/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
Danh Quành N, sinh năm 1977, tại tỉnh Kiên Giang;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp S, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Danh M, sinh năm 1954 và bà Thị P, sinh năm 1953; Có vợ Đỗ Thị Thu L, sinh năm 1979, có hai con chung lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Bị hại: Công ty Cổ phần S.
Địa chỉ: Lô S, đường E, khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Mã Văn N1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: I Cư xá A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản uỷ quyền ngày 15/5/2021).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Danh Quành N làm thủ kho nguyên liệu gỗ của Công ty cổ phần S (gọi tắt Công ty S) có địa chỉ: Khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình cung cấp ván ép cho bộ phận sản xuất để làm thành phẩm, có dư ra những tấm ván gỗ ép MDF có kích thước khác nhau, nên bộ phận sản xuất nói N mang lại về kho. N đem về kho gom lại được nhiều, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền. Thực hiện ý định, N bàn với Lưu Huỳnh H (tài xế của Công ty D, có nhiệm vụ chở ván gỗ ép cung cấp cho Công ty S) cùng nhau chiếm đoạt ván ép của Công ty S bán lấy tiền tiêu xài, thì H đồng ý. N bàn với H, khi có chuyến hàng chở ván gỗ ép của Công ty D cung cấp cho công ty S, thì H gọi điện thoại báo cho N biết, N sẽ nhắn tin hoặc gọi điện báo cho H biết số ván gỗ ép các loại có kích thước khác nhau còn dư trong kho, để H rút số ván gỗ ép cùng loại, cùng kích thước xuống khỏi xe đi tiêu thụ, sau đó giao số ván ép còn lại cho N. Mặc dù biết số ván ép trên xe của H không đủ, nhưng N vẫn xác nhận đã nhận đủ số lượng theo phiếu xuất kho của Công ty D để tránh bị 02 công ty phát hiện. Với thủ đoạn trên, trong thời gian từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2020, N và H đã thực hiện 25 lần chiếm đoạt ván gỗ ép của Công ty S, mỗi lần chiếm đoạt từ 08 đến 10 tấm, bán được từ 1.500.000 đồng đến 1.900.000 đồng. Tổng số ván gỗ ép mà N và H chiếm đoạt của Công ty S là 200 tấm, kích thước khác nhau; H mang bán cho tiệm phế liệu ven đường không rõ địa chỉ cụ thể, được tổng số tiền 40.000.000đồng, H và N chia nhau, mỗi người 20.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án: 100 tấm ván ép MDF loại 12 x 1220 x 2440; 40 tấm ván ép MDF loại 12 x 1525 x 2440; 20 tấm ván ép MDF loại 12 x 1830 x 2440; 40 tấm ván ép MDF loại 15 x 1525 x 2440 (chưa thu hồi được).
Tại kết luận định giá tài sản số 87/KLĐG-HĐĐG ngày 14/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 200 tấm ván ép trên có giá trị 47.760.000 đồng.
Cáo trạng số 258/CT-VKS-NT ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố các bị cáo Danh Quành N và Lưu Huỳnh H về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Bản án số 268/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Danh Quành N: 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù và xử phạt bị cáo Lưu Huỳnh H 02 (Hai) năm, 04 (B) tháng tù cùng về tội “Tham ô tài sản".
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 25/11/2024, bị cáo Danh Quành N kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Căn cứ chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa phúc thẩm có cơ sở kết luận từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2020, lợi dụng chức vụ là thủ kho nguyên liệu của Công ty S, Danh Quành N đã cùng Lưu Huỳnh H thực hiện hành vi chiếm đoạt 200 tấm gỗ ván ép các loại có giá trị 47.760.000 đồng. Cấp sơ thẩm xét xử hai bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo N hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm, sáu tháng tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, đồng thời cung cấp thêm giấy xác nhận gia đình khó khăn, hiện đang phải nuôi con nhỏ, con đầu sinh năm 2004 bị bệnh về mắt, con nhỏ sinh năm 2016 đang phải điều trị bệnh ung thư. Theo Nghị quyết số 02 ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo N không đủ điều kiện hưởng án treo. Tuy nhiên, bị cáo N thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường và khắc phục toàn bộ thiệt hại, được bị hại bãi nại; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi hai con nhỏ bị bệnh hiểm nghèo, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tù cho bị cáo thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật.
Đối với bị cáo Lưu Huỳnh H, mặc dù không kháng cáo, nhưng xét thấy bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả, có mẹ ruột là Châu Thị H1 được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn hiện đang nuôi hai con nhỏ, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Danh Quành N làm trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thể hiện: Danh Quành N là thủ kho Công ty cổ phần S tại khu Công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian từ tháng 7 năm 2020 đến tháng 12 năm 2020, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, Danh Quành N cùng với Lưu Huỳnh H (là tài xế của Công ty D có nhiệm vụ chở ván gỗ ép cung cấp cho Công ty S) đã thực hiện hành vi chiếm đoạt 200 tấm gỗ ván ép các loại có trị giá 47.760.000 đồng của Công ty cổ phần S. Hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), như Bản án sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã đánh giá bị cáo Danh Quành N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 2 năm 06 tháng tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, kèm đơn kháng cáo bị cáo cung cấp chứng cứ thể hiện bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính nuôi hai con bị bệnh hiểm nghèo.
[2.2] Xét thấy, bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo được hưởng các tình tiết theo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đó là: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường và khắc phục toàn bộ thiệt hại, được bị hại bãi nại; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi hai con bị bệnh, trong đó con lớn sinh năm 2004 bị bệnh về mắt, đã phẫu thuật cắt bỏ nhãn cầu trái, mắt phải đang điều trị duy trì; con nhỏ sinh năm 2016 bị ung thư thận, đã cắt bỏ thận trái, thận phải cũng đang điều trị duy trì. Hiện bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, gia đình và bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, nên không cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe và tạo điều kiện cho bị cáo được gần gũi, chăm sóc gia đình thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, đồng thời cũng không trái với hướng dẫn của tại Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về án treo.
[2.3] Đối với bị cáo Lưu Huỳnh H cũng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đánh giá của Viện kiểm sát là đúng, nhưng bị cáo H có nhân xấu (ngày 22/8/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm, 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt năm 2015), nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H 02 năm, 04 tháng tù. Sau khi cấp sơ thẩm xét xử, bị cáo H không kháng cáo, nên cấp phúc thẩm không xem xét.
[3] Quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Danh Quành N, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 268/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Danh Quành N 02 (Hai) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Danh Quành N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Về án phí: Bị cáo Danh Quành N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Phương Đông - Hà Thị Thanh Nữ |
Vũ Thị Thu |
Nơi nhận:
- -Bị cáo;
- - Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch;
- - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch;
- -Thi hành án hình sự - Công an huyện Nhơn Trạch;
- -Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Nhơn Trạch;
- -Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch;
- -Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai (PV06);
- -Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- -Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Vũ Thị Thu |
Bản án số 153/2025/HS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 153/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh Quành N - Tham ô tài sản
