Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30-6-2025

V/v ly hôn

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết.

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 115/2025/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn G, xã L, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh KIM K, sinh năm 1974; hiện cư trú: 69-8 O-ro, Geumsan-eup, C-Do, Hàn Quốc; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 28/5/2025 nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị và anh KIM K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 25/11/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở Việt Nam được một thời gian ngắn thì anh KIM K về nước để bảo lãnh cho chị T sang Hàn Quốc đoàn tụ. Anh chị sống chung ở Hàn Quốc được một thời gian do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống và phong tục tập quán nên chị T về Việt Nam. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, rất ít liên lạc với nhau; chị T xác định không còn tình cảm với anh KIM K, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ nên chị T đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh KIM K

Về con chung: Anh chị không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết

Về tài sản chung: Chị T và anh KIM K không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai, uỷ quyền, đơn xét xử vắng mặt anh KIM K (đã được hợp pháp hoá Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại Hàn Quốc) trình bày:

Anh KIM KOEANOK thống nhất với chị Nguyễn Thị T về thời gian kết hôn, quá trình chung sống nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Nguyễn Thị Thanh ly H vì vợ chồng sống ly thân đã lâu, không còn tình cảm với nhau, không có khả năng đoàn tụ.

Về con chung và tài sản chung: Anh KIM K và chị Nguyễn Thị T không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, chị Nguyễn Thị T và anh KIM K vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như bản tự khai đã gửi Tòa án. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T hiện cư trú trên địa bàn thành phố Hải Phòng và bị đơn anh KIM K, hiện cư trú tại Hàn Quốc. Chị T và anh KIM K đều đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và anh KIM K vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện và quá trình kết hôn như chị Nguyễn Thị T và anh KIM K trình bày, hôn nhân giữa chị T và anh KIM K là hợp pháp theo quy định tại các điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở Việt Nam được một thời gian ngắn thì anh KIM K về nước để bảo lãnh cho chị T sang đoàn tụ. Anh chị chung sống được một thời gian bên Hàn Quốc nhưng do bất đồng ngôn ngữ, quan điểm sống và phong tục tập quán nên sau đó chị T về nước. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân, mỗi người sống một nơi không ai còn quan tâm đến ai, chị T ở Việt Nam, anh KIM K ở Hàn Quốc; vợ chồng ít liên lạc với nhau, tình cảm ngày càng lạnh nhạt. Vì vậy, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Nguyễn Thị T và anh KIM K không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T; cho chị T được ly hôn anh KIM K

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh KIM K thống nhất trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh KIM K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh KIM KOEANOK

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh KIM K không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh KIM K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001254 ngày 28/04/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh KIM K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSNDTP Hải Phòng;

- Cục THADS TP Hải Phòng;

- UBND thành phố Thuỷ Nguyên,

Tp. Hải Phòng (ĐKKH ngày 25/11/2016);

- Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thu

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 153/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CNYYCKK
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger