Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt

Ông Đặng Ngọc Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Đồng Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/4/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 91/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh ngày 21/10/1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Anh Thân Văn H, sinh ngày 20/5/1993 (vắng mặt).

Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng của anh H tại Việt Nam: Tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Hiện anh H đang lao động ở nước ngoài).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Thân Văn H được tự do tìm hiểu. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/7/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y (nay là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà anh H làm dâu, vợ chồng chung sống hòa thuận. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên tháng 01/2023 anh H đi lao động tại Nhật Bản. Sau khi sang Nhật Bản vợ chồng chị vẫn hòa thuận nhưng đến tháng 8/2024 thì phát sinh mâu thuẫn và không còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn chị và anh H nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con, nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ, nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Thân Văn H.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh Thân Văn H có 01 con chung là cháu Thân Đức A, sinh ngày 20/3/2022. Hiện nay, cháu Thân Đức A đang sinh sống cùng chị tại tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu Toà án giao cháu Thân Đức A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Do anh H đang làm việc tại nước ngoài nên chị sẽ tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, do hiện nay công việc của chị rất bận, chị không thể đến làm việc với Tòa án được nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả các phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại tất cả các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Anh Thân Văn H là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc ngày 21/3/2025 và ngày 16/4/2025 với ông Thân Văn H1 là bố của anh Thân Văn Hoàng cung C:

Anh H là con trai, chị L là con dâu của ông. Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Y (nay là UBND phường T, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Mới đầu cuộc sống vợ chồng anh, chị chung sống hạnh phúc, vợ chồng bảo ban nhau làm ăn. Tuy nhiên, một thời gian sau khi cuộc sống có gặp khó khăn về kinh tế, anh H đi nước ngoài làm ăn nên vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh, chị nói là do bất đồng quan điểm sống. Ông có khuyên bảo anh, chị về ở với nhau để chăm sóc con cái nhưng không được. Anh H, chị L có 01 con chung là cháu Thân Đức A, sinh ngày 20/3/2022. Hiện nay, cháu Thân Đức A đang sinh sống cùng mẹ cháu tại tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tài sản, công nợ của chung của anh, chị thì ông không rõ. Về yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H, đó là chuyện của riêng vợ chồng anh chị nên ông không cho ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu giao con chung là cháu Thân Đức A, sinh ngày 20/3/2022 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh H về Việt Nam, ông đồng ý.

Ngoài ra, ông H1 cung cấp: Anh H đi lao động tại Nhật Bản và có về thăm gia đình vài lần. Những lần anh H về Việt Nam, anh H sinh sống cùng ông tại tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Sau khi sang Nhật Bản, anh H thường xuyên liên lạc với gia đình qua mạng xã hội. Ông đã thông báo cho anh H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa chị Phạm Thị L với anh Thân Văn H. Anh H không cung cấp cho Toà án được địa chỉ, nơi ở, làm việc và ý kiến bằng văn bản. Anh H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Phạm Thị L xin vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Thân Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phạm Thị L; biên bản làm việc với ông Thân Văn H1; biên bản làm với với UBND phường T, biên bản xác minh với Công an phường T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Thân Văn H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

Về hôn nhân: cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Thân Văn H.

Về con chung: Giao cháu Thân Đức A, sinh ngày 20/3/2022 cho chị L nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ chung: chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phạm Thị L khởi kiện xin ly hôn anh Thân Văn H và yêu cầu giải quyết về nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Anh Thân Văn H là bị đơn hiện nay đang ở nước ngoài. Theo công văn trả lời số 1348/QLXNC ngày 15/5/2025 của Phòng Q-Công an tỉnh B cung cấp, anh Thân Văn H xuất nhập cảnh nhiều lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 21/01/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định anh H hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Mặt khác, anh H là bị đơn hiện có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có bị đơn anh H ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về việc vắng mặt của đương sự:

Đối với nguyên đơn chị Phạm Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Phạm Thị L.

Đối với bị đơn anh Thân Văn H: Căn cứ theo lời khai của nguyên đơn chị L, ông Thân Văn H1 (là bố của anh H) và biên bản xác minh với Công an phường T, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú cuối cùng của anh H trước khi xuất cảnh ở tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh H thông qua người thân của anh H là ông Thân Văn H1 (là bố của anh H) và đề nghị ông H1 thông báo cho anh H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị L và bị đơn là anh Thân Văn H. Ông H1 cho biết anh H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh H tại nước ngoài. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Thân Văn H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14/7/2021 tại UBND xã T, huyện Y (nay là UBND phường T, thành phố B), tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị L, anh H phát sinh mâu thuẫn, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Thân Văn H.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị L và anh Thân Văn H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị L và anh H chung sống với nhau hạnh phúc, tuy nhiên một thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã không thể hàn gắn được, không ai còn quan tâm đến ai. Hiện nay anh H đang ở nước ngoài, vợ chồng sống xa cách, không liên lạc với nhau, ai có cuộc sống của người đó. Ngoài ra, ông H1 (là bố của anh H) cung cấp chị L và anh H có mâu thuẫn, anh chị có được ông và gia đình hòa giải nhưng không thành. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị L, anh H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H, xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Thân Văn H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[5]. Về nuôi con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là cháu Thân Đức A, sinh ngày 20/3/2022. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị L và do chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị L, Hội đồng xét xử thấy: Anh H đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Mặt khác, từ khi anh H đi lao động tại nước ngoài cho đến nay chị L vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung, cháu Đức A phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị L về yêu cầu giao con chung cho chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là có căn cứ và phù hợp thực tiễn cũng như đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Sau khi ly hôn anh Thân Văn H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Trường hợp anh Thân Văn H về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án, anh Thân Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị L được ly hôn anh Thân Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Thân Đức A, sinh ngày 20/3/2022 cho chị Phạm Thị L nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, anh Thân Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000460 ngày 20/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phạm Thị L đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Phạm Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án, anh Thân Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND phường T, thành phố B;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 153/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa anh L và chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger