Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 153/2025/DS- ST

Ngày 18-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Thế Văn

Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Anh Đoan và bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Linh Thi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1957 nơi cư trú: Tổ A, khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Công ty cổ phần G có trụ sở tại: Lô C, Cụm C, xã T, huyện P, tỉnh An Giang,

Người đại diện hợp pháp của công ty: Ông Nguyễn Mạnh H, chức vụ: Giám đốc công ty là đại diện theo pháp luật của công ty. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 02 năm 2025 và lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:

Công ty cổ phần G có ký kết với ông hợp đồng khoán việc số 03-2020/HĐGK-GV ngày 01/8/2020 với nội dung cung ứng nhân công cho công ty G để thực hiện công việc thi công, xây dựng công trình phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của công ty với số tiền tạm tính là 1.348.321.822 đồng, được thanh toán theo tiến độ thi công. Sau khi ký hợp đồng, ông đã thuê mướn nhiều lao động để thi công các hạng mục cho công ty, đến ngày 07/11/2024 hai bên thống nhất ký biên bản xác nhận công nợ, theo đó công ty cổ phần G xác nhận còn nợ ông số tiền tổng cộng 246.180.030 đồng. Tuy nhiên, từ sau khi ký biên bản xác nhận nợ, ông nhiều lần yêu cầu công ty thanh toán nhưng công ty không thực hiên. Nay ông yêu cầu Công ty cổ phần G trả cho ông tiền nhân công xây dựng còn nợ 246.180.030 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn Công ty cổ phần G do ông Nguyễn Mạnh H đại diện theo pháp luật vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu bị đơn trả tiền công xây dựng còn nợ 246.180.030 đồng, không yêu cầu tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn là công ty có trụ sở tại xã T, huyện P, tỉnh An Giang trả tiền khoán việc xây dựng nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng dịch vụ và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn Công ty cổ phần G do ông Nguyễn Mạnh H đại diện theo pháp luật đã được triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Công ty cổ phần G có ký kết với ông Nguyễn Văn M hợp đồng khoán việc số 03-2020/HĐGK-GV ngày 01/8/2020 với nội dung: công ty giao cho ông M thuê nhân công và thiết bị thực hiện công việc thi công xây dựng các hạng mục nhà xưởng cho nhà máy của công ty, đơn giá theo từng công việc và theo khối lượng thực tế, thời gian hợp đồng là không ghi thời hạn. Sau khi ký hợp đồng, ông M thuê mướn nhiều lao động và thuê thiết bị để thực hiện xây dựng cho công ty, đến ngày 07/11/2024 thì công ty xác nhận công nợ nợ ông M tiền công xây dựng của 06 lần tổng cộng 246.180.030 đồng. Ngoài nợ ông M, Công ty cổ phần G còn nợ tiền lương của rất nhiều công nhân nên Ủy ban nhân dân huyện P cùng các cơ quan ban ngành tiến hành gặp gỡ, đối thoại giữa công ty và người lao động nhưng công ty không có khả năng thanh toán tiền lương người lao động cũng như tiền nợ của ông M. Do đó, ông M khởi kiện yêu cầu công ty cổ phần G trả cho ông tiền còn nợ 246.180.030 đồng, không yêu cầu tính lãi.

[3] Hợp đồng giao việc ngày 01/8/2020 giữa công ty cổ phần G và ông Nguyễn Văn M được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, có mục đích và nội dung phù hợp với quy định của Điều 117 Bộ luật Dân sự nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Theo Điều 3 của hợp đồng khoán việc, công ty có trách nhiệm thanh toán cho ông M dựa trên khối lượng công việc hoàn thành thực tế theo Bảng xác nhận khối lượng thực tế của hai bên theo định kỳ 02 tuần một lần, và thanh toán bằng tiền mặt sau khi xác nhận khối lượng và làm đề nghị thanh toán xong. Công ty đã có biên bản xác nhận công nợ với ông M nhưng đến nay vẫn không thanh toán là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. Bị đơn Công ty cổ phần G đã được Tòa án tống đạt các thông báo thụ lý, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng từ chối nhận văn bản và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, xem như thừa nhận còn nợ ông M. Do đó, ông M khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần G trả tiền 246.180.030 đồng, không yêu cầu tính lãi là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty cổ phần G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 271 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 513, Điều 514, Điều 519 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M đối với bị đơn là Công ty cổ phần G về hợp đồng dịch vụ.

Buộc Công ty cổ phần G có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn M số tiền 246.180.030đ (hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm tám mươi nghìn không trăm ba mươi đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự trên số tiền chậm thi hành án.

Công ty cổ phần G phải chịu 12.309.000đ (mười hai triệu ba trăm lẽ chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND H. Phú Tân;
  • - Chi cục THADS H. Phú Tân;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Trần Thế Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2025/DS- ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 153/2025/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông Nguyễn Văn M yêu cầu Công ty cổ phần G trả cho ông tiền nhân công xây dựng còn nợ 246.180.030 đồng, không yêu cầu tính lãi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger