TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 153/2025/DS-PT Ngày 30 tháng 6 năm 2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Thuận Tùng
- - Các Thẩm phán: ông Phạm Tấn Tài và bà Phan Thị Minh Tâm.
- - Thư ký phiên tòa: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 49/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2025/QĐPT-DS ngày 20 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1959; địa chỉ: số B, Lô C, chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị T: ông Phạm Hữu P – Luật sư Văn phòng L6 – Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ 125/22/7 V, phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đồng bị đơn:
- + ông Phạm Kiến Q, sinh năm: 1972;
- + bà Nguyễn Thị Như L, sinh năm: 1976;
- + chị Phạm Bảo N, sinh năm: 2003;
- + anh Phạm Kiến P1, sinh năm: 2004;
Người đại diện hợp pháp của chị N, anh P1: ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L. Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, An Giang.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Q, bà L: bà Lê Thị C – Luật sư Văn phòng luật sư Lê Thị C, Đoàn Luật sư tỉnh A.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1 ông Phạm Kiến L1, sinh năm: 1943; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, An Giang;
Người đại diện hợp pháp của ông L1: Phạm Kiến Q, sinh năm: 1972; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, An Giang.
- 3.2 Trạm y tế xã B; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang;
- 3.3 Ông Huỳnh Tuấn K, 1936 và bà Dương Thị T1, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, An Giang;
- 3.4 Chị Nguyễn Thị Sa R, sinh năm 1992 và chị Nguyễn Sa R1, sinh năm 1986; cùng địa chỉ: số B, Lô C, chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện theo ủy quyền của chị Sa R và Sa R1 là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1959; địa chỉ: số B, Lô C, chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
- 3.5 Ông Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1946; địa chỉ: ấp R, xã B, thành phố P, tỉnh Kiên Giang;
- 3.6 Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1930; địa chỉ: số A P, khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh;
- 3.7 Bà Phạm Kim D, sinh năm 1945 (chết) những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà D:
- 3.8 Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1938;
- 3.9 Ông Nguyễn Hữu P2, sinh năm 1970;
- 3.10 Ông Nguyễn Kim D1, sinh năm 1978;
- 3.11 Ông Nguyễn Thùy T3, sinh năm 1980;
- 3.12 Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, Chợ M, tỉnh An Giang.
- 3.13 Bà Phạm Thị Thu T4, sinh năm 1958;
- 3.14 Bà Phạm Thị Thu B, sinh năm 1974;
- 3.15 Bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1976;
- 3.16 Bà Phạm Thị Thu N2, sinh năm 1978;
- 3.17 Ông Phạm Trường L2, sinh năm 1969;
- 3.19 Ông Phạm Trường S, sinh năm 1970;
- 3.20 Bà Phạm Thị T5, sinh năm 1971;
- 3.21 Bà Phạm Thị Thu T6, sinh năm 1980;
Cùng địa chỉ: số G, tổ A, ấp D, xã A, huyện C, Tiền Giang.
- 3.22 Ông Phạm Kỳ H2, sinh năm 1972;
- 3.23 Bà Phạm Thị Thanh T7, sinh năm 1974;
- 3.24 Bà Phạm Thị Cẩm H3, sinh năm 1975;
Cùng địa chỉ: số A, khu phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- 3.25 Bà Hồ Thị M, sinh năm 1939;
- 3.26 Phạm Kim Q1, sinh năm 1965;
- 3.27 Phạm Văn B1, sinh năm 1966;
- 3.28 Phạm Thị Kim H4, sinh năm 1967;
Cùng địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
- 3.29 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt bà Nguyễn Thị T, Luật sư Phạm Hữu P, ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L, Luật sư Lê Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ án sơ thẩm:
Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, các biên bản hòa giải nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc đất là của cụ ngoại của chồng tên Phạm Văn Đ1 (chết năm 1948, không rõ năm sinh) cùng vợ là cụ Lê Thị B2 (chết năm 1965, không rõ năm sinh). Cụ Đ1 và cụ B2 có 4 người con gồm: 1. Phạm Hùng N3 (sinh 1915, chết 2003), 2. Phạm Thị T8 (sinh năm 1919, không nhớ năm chết), 3. mẹ chồng là Phạm Thị N4 (sinh năm 1921, chết năm 1999), 4. Phạm thị T9 (sinh 1925, chết khoảng năm 1979). Mẹ chồng là bà Phạm Thị N4, được thừa hưởng đất của ông, bà để lại khoảng 1000m² đất vườn nằm cạnh lộ nông thôn cặp rạch C, vị trí đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Bà cùng chồng tên Nguyễn Văn S1 (sinh năm 1958 – chết năm 1997) được mẹ chồng làm giấy viết tay để lại cho vợ chồng bà sử dụng diện tích 1 công đất trên từ năm 1986. Việc cho đất cho vợ chồng bà còn có cậu chồng tên Phạm Hùng N3 chứng kiến và thống nhất. Bà cùng với chồng xây dựng căn nhà ngang 4m, dài 10m, vật liệu nền xi măng, vách tường, gác gỗ, mái tôn và sử dụng ổn định miếng đất từ năm 1986. Vào năm 1997 chồng bà mất, bà cùng các con đi Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, căn nhà trên cho người khác thuê. Đến năm 2000 địa phương có yêu cầu kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại trà, khi cán bộ địa chính xuống tiến hành đo đạc, thì phát sinh tranh chấp với ông Phạm Kiến L1 nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2001, 2002 trong khi bà (T) vắng nhà thì ông L1 ngang nhiên xây cất căn nhà cấp 4 cặp sát nhà của bà. Nhiều lần bà T làm đơn ngăn cản nhưng phía ông L1 vẫn bất chấp, tiếp tục xây cất. Về sau, ông L1 để cho con là Phạm Kiến Q, vợ là Nguyễn Thị Như L, cùng 2 con là Phạm Bảo N, Phạm Kiến P1 ở cho đến nay. Bà T khiếu nại liên tục tranh chấp quyền sử dụng đất với ông L1, sau đó khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, yêu cầu vợ chồng ông Q và các con tháo dỡ di dời nhà, vật kiến trúc diện tích 118,7m², trả lại cho bà T diện tích đất theo Bản vẽ đo đạc hiện trạng khu đất ngày 27/6/2018 của Văn phòng Đ2 Chi nhánh C2 là 847,3m². Trên đất tranh chấp ngoài căn nhà của bà T, nhà ông Q, còn có căn nhà của ông Huỳnh Tuấn K, (phần nhà của ông K sẽ thỏa thuận với ông K sau). Bà T rút lại yêu cầu ông Q, ông L1 bồi thường thiệt hại căn nhà và cây trồng trên đất; bà rút lại yêu cầu tranh chấp đối với diện tích thuộc quyền sử dụng đất Trạm y tế xã B.
Bị đơn ông Phạm Kiến Q đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị Như L trình bày: Nguồn gốc diện tích đất của ông nội là Phạm Văn L3 để lại cho cha là ông Phạm Kiến L1 có trích lục địa bộ (của chế độ cũ). Cụ nội (L3) có cất căn nhà từ khoảng 100 năm trước. Đến năm 1986 thì vợ chồng bà T do không có nhà ở, nên xin cha ông (ông L1) cho ở trong căn nhà gỗ của ông nội, cha ông đồng ý cho ở tạm. Đến năm 1990 cha ông đi làm ăn xa (thỉnh thoảng có về nhà), thì phát hiện bà T tháo dỡ căn nhà xưa (bằng gỗ) xây dựng lại căn nhà mới 40m², có lấy một số gỗ của cụ L3 cho cha ông (vì cha ông sống cùng với cụ L3). Sau đó, cha ông tranh chấp và báo chính quyền địa phương để giải quyết vào năm 1991, nhưng không có giấy tờ hay biên bản. Cha ông và ông có khởi kiện tại Tòa án, nhưng không được giải quyết. Sau đó, cha ông khiếu nại Thanh tra huyện C giải quyết, nhưng không có kết quả. Khoảng năm 1997, sau khi ông S1 chết, bà T bỏ đi khỏi địa phương, căn nhà của bà T để trống. Vào năm 1999, ông xây cất căn nhà trên phần đất của ông nội Phạm Văn L3 để lại cho cha là Phạm Kiến L1 và sử dụng cho đến nay. Năm 2012 ông có cho vợ chồng bà Nguyễn Thị C1, ông Huỳnh Tuấn K cất một căn nhà tạm để ở, có diện tích 30,9m², căn nhà không có điện nước, nhà vệ sinh, chủ yếu để ngủ nghỉ. Sau khi bà C1 chết, ông vẫn dể cho ông K sử dụng. Đối với diện tích đất Trạm xá xã B và căn nhà ông K, khi nào có tranh chấp ông sẽ khởi kiện vụ án khác. Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông và ông L1 yêu cầu bà Nguyễn Thị T tháo dỡ căn nhà 40m² trả lại diện tích 960m².
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trạm y tế xã B do ông Phan Văn H5 đại diện trình bày: Ông là Trưởng Trạm y tế xã B, nguồn gốc đất là do Ủy ban nhân dân huyện C và Ủy ban nhân dân xã B mua của ông Lê Quang R2, nguyên Bí thư Đảng ủy xã B và ông Nguyễn Văn H6, nguyên Trưởng Công an xã ngang 50m, dài 40m, tổng diện tích 2.000m², phần đất này đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 00832 ngày 06/12/2010 diện tích 1.127,1m² tờ bản đồ số 30, thửa đất số 20, 18 theo đúng trình tự thủ tục quy định. Đối với việc tranh chấp giữa bà T và ông Q, ông không có ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Tuấn K trình bày, do không có chỗ ở, nên địa phương đã vận động ông Q cho ông ở nhờ trên đất. Việc tranh chấp đất giữa bà T và ông Q, ông không có ý kiến. Nhưng ông có nói với bà T, nếu đất thuộc về bà T sau khi giải quyết, ông sẽ trả đất lại cho bà T và bà T cho tiền bao nhiêu cũng được để ông di chuyển đi. Ông xin được vắng mặt khi xét xử.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc N1 trình bày: Ông với Nguyễn Văn S1 chồng bà T, là anh em bạn dì ruột. Mẹ ông là Phạm Thị T8, (con của ông Phạm Văn Đ1, bà Lê Thị B2). Ông bà ngoại có 04 người con là Phạm Hùng N3 (chết) ở thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Thị T8 (chết), Phạm Thị N4 (chết), Phạm Thị T9 (chết). Nguồn gốc đất là của ông, bà ngoại, ông bà chết trước năm 1975. Sau khi ngoại mất, mấy cậu, dì sử dụng chung để làm phủ thờ. Năm 1984, anh em gồm cậu N3, dì Nhiểu, dì T8 có họp lại và đồng ý cho vợ chồng Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Thị T sử dụng, nhưng không làm giấy tờ, người ngoài cũng không ai biết. Sau đó, bà N4 làm giấy tờ cho đất cho vợ, con ông S1 là Nguyễn Thị T, Nguyễn Sa R1, Nguyễn Thị Sa R. Vợ chồng bà T sử dụng đất này từ năm 1985. Việc tranh chấp đất giữa bà T với Q, ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho bà T vì nguồn gốc đất là của gia đình ông đã cho bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Buộc ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L, cháu Phạm Bảo N, cháu Phạm Kiến P1 có nghĩa vụ tháo dỡ nhà công trình phụ tại các mốc điểm 25, 26, 27, 28 và 25, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 19, 20, 21, 25 có tổng diện tích là 118,7m² và giải tỏa cây trên diện tích 816,4m² theo sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 27/6/2018 của Văn Phòng Đ2 – Chi nhánh C2 tại các mốc điểm 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 (trừ phần diện tích của ông Huỳnh Tuấn K đang sử dụng tại các mốc điểm 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 có diện tích 30,9m²).
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đòi ông L1, anh Q bồi thường thiệt hại đối với nhà và cây cối trên đất; diện tích đất 152,7m²; diện tích 27,5m² của Trạm y tế xã B và diện tích 30,9m² do ông K đang sử dụng và quản lý.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Kiến Q và yêu cầu độc lập của ông Phạm Kiến L1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 00832 ngày 06/12/2010 diện tích 1.127,1m² tờ bản đồ số 30, thửa đất số 20, 18 tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Phạm Kiến Q, yêu cầu độc lập của ông Phạm Kiến L1 đòi bà Nguyễn Thị T trả lại căn nhà gỗ, cột tròn, cây căm xe, cà chất, mái ngói xưa (loại ngói 01 đầu tròn, 01 đầu ngang) xung quanh dựng vách ván thao lao ngang 8m, dài 15m.
Ngoài ra còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 9 năm 2024, ông Phạm Kiến L1, ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, nguyên đơn có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành đo đạc, thẩm định giá lại.
- Tại Biên bản định giá ngày 24 tháng 4 năm 2025 do Hội đồng định giá tỉnh An Giang xác định đất tranh chấp có vị trí 1, cặp sát lộ nhựa nông thôn và cặp bờ kênh có giá 413.000 đồng/m².
- Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 03/6/2025 và Bản trích đo hiện trạng khu đất bổ sung ngày 17/6/2025 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ3 (Sau đây gọi tắt là Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025) xác định:
- + Về hiện trạng: (Có 3 hiện trạng sử dụng đất theo chỉ dẫn của nguyên đơn, bị đơn và người sử dụng đất kế cận)
Tổng diện tích đất theo chỉ dẫn đo đạc của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T là 1013,5m². Trong đó, đất thuộc hành lang giao thông là 6,1m²; đất thuộc Trạm y tế xã B là 24,0m²; đất thuộc quyền sử dụng của ông Tạ Hữu M1, bà Nguyễn Thị Mỹ D2 là 4,6m²; đất thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 30 là 375,1m². Như vậy, diện tích đất tranh chấp thực tế là 603,7m². Trong đó, 160,5m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ 30 và 443,2m² thuộc thửa đất số 32, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Tổng diện tích đất theo chỉ dẫn đo đạc của bị đơn ông Phạm Kiến Q là 933,8m². Trong đó, đất thuộc hành lang giao thông là 6,1m²; đất thuộc Trạm xá xã B là 24,0m²; đất thuộc quyền sử dụng của ông Tạ Hữu M1, bà Nguyễn Thị Mỹ D2 là 0,7m²; đất thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 30 là 299,3m². Như vậy, diện tích đất tranh chấp thực tế là 603,7m². Trong đó, 160,5m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ 30 và 443,2m² thuộc thửa đất số 32, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Tổng diện tích đất theo chỉ dẫn đo đạc của người sử dụng đất kế cận tên Đinh Ngọc T10 là 547,0m². Trong đó, đất thuộc hành lang giao thông là 3,1m²; đất thuộc Trạm y tế xã B là 24,0m²; đất thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30 là 137,8m²; đất thuộc thửa đất số 32, tờ bản đồ số 30 là 31,2m². Như vậy, một phần diện tích 196,1m² (ông T10 chỉ ranh) nằm ngoài thửa đất số 19, tờ bản đồ số 30 là không thuộc quyền sử dụng của ông T10. Diện tích còn lại là 350,9m² thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 30 ông T10 đang sử dụng trồng cây.
- + Vật kiến trúc có 3 căn nhà gồm:
- Nhà bà Nguyễn Thị T diện tích 39,9m² và bồn nước 3,2m², thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 30.
- Nhà ông Phạm Kiến Q diện tích 99,1m². Trong đó, diện tích 5,1m² thuộc thửa 19 tờ bản đồ số 30; diện tích 5,6m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30 và diện tích 88,4m² thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 30.
- Nhà ông Huỳnh Tuấn K diện tích 25,9m². Trong đó, diện tích 15,0m² thuộc thửa số 19, tờ bản đồ số 30 và diện tích 10,9m² thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 30.
- + Cây lâu năm:
Bà T xác định phần đất giáp ranh phía sau ông T10 trồng 23 cây xoài, 01 cây dừa, 01 cây bưởi. Nếu Tòa giao diện tích đất có cây ông T10 trồng thì bà đồng ý trả giá trị cây trồng theo giá đã định cho ông T10.
Ông Q xác định phần đất giáp ranh phía sau ông T10 trồng 12 cây xoài, 01 cây dừa, 01 cây bưởi. Nếu Tòa giao diện tích đất có cây ông T10 trồng thì ông đồng ý trả giá trị theo giá đã định cho ông T10.
- + Nội dung khác: Ông Đinh Ngọc T10 cho rằng toàn bộ diện tích đất tranh chấp giữa bà T với ông Q là đất ông, bà của ông để lại. Ông T10 yêu cầu tham gia tố tụng và yêu cầu xem xét công nhận quyền sử dụng đất cho ông.
Nguyên đơn, bị đơn và người sử dụng đất giáp ranh (ông T10) thống nhất kết quả đo đạc tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ3; thống nhất kết quả định giá ngày 24/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản, theo Quyết định thành lập Hội đồng định giá số 01/2025/QĐ-DG ngày 14/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; các bên cùng yêu cầu Tòa án tiến hành giải quyết theo thủ tục chung.
Biên bản xác minh ngày 13/3/2025 ông Trần Minh L4 đại diện Trạm y tế xã B trình bày: Trước kia bà Nguyễn Thị T có học Trung cấp y tế và hành nghề y tế tư nhân. Bà T cất nhà gần sát Trạm y tế xã B để thuận lợi hành nghề y. Giữa bà T với ông L1, ông Q xảy ra tranh chấp từ rất lâu, ông xác định bà T không phải nhân viên y tế xã, ông yêu cầu khi Tòa án xét xử thì bảo vệ quyền sử dụng đất của Trạm y tế xã.
Biên bản xác minh ngày 08/5/2025 ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1962, ngụ tổ G ấp B, xã B, huyện C trình bày: Bà T là người sử dụng mảnh đất trên từ rất lâu và có xây dựng 01 căn nhà. Sau khi chồng bà T chết thì bà T khóa cửa nhà về Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, thỉnh thoảng bà về thăm nhà. Đến khoảng năm 2001 thì ông Phạm Kiến Q tự ý xây cất căn nhà cặp với căn nhà bà T. Bà T khiếu nại nhưng sự việc đang được Tòa án huyện C thụ lý giải quyết. Ông V khẳng định bà T là người có thời gian sử dụng liên tục, ổn định. Việc ông Q tự ý chiếm đất cất nhà là trái với quy định của pháp luật. Đối với việc ông Đinh Ngọc T10 trồng xoài trên diện tích đất đang tranh chấp khi không có mặt bà T ở nhà. Từ trước đến giờ ông T10 không có yêu cầu tranh chấp với bà T.
Biên bản xác minh cùng ngày 08/5/2025, ông Nguyễn Văn H7, sinh năm 1954, ngụ tổ G ấp B, xã B, huyện C trình bày: Căn nhà của bà Nguyễn Thị T đã được xây dựng từ trước, bà T có quá trình sử dụng ổn định lâu dài. Về sau con ông Phạm Kiến L1 là Phạm Kiến Q cất nhà ngay sát nhà bà T dẫn đến tranh chấp. Tòa án thụ lý giải quyết buộc ông Q tháo dỡ nhà trả quyền sử dụng đất cho bà T là phù hợp. Việc ông Đinh Ngọc T10 đứng ra tranh chấp với bà T, ông Q thì ông mới nghe, còn trước đó thì ông T10 không thể hiện yêu cầu tranh chấp phần đất nói trên. Ông xác định Tòa án huyện C xét xử là phù hợp.
Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm,
- * Luật sư Lê Thị C bảo vệ quyền lợi bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do quá trình thu thập chứng cứ và xét xử, cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Cụ thể: Về hình thức, Tòa án cấp sơ thẩm không thu tạm ứng án phí của nguyên đơn nhưng đã thụ lý vụ án; bà Nguyễn Thị T không có quyền khởi kiện đòi quyền sử dụng đất đối với ông Phạm Kiến L1, ông Phạm Kiến Q; khi xét xử cấp sơ thẩm không tống đạt hợp lệ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là con của bị đơn tên Phạm Kiến P1. Hiện cháu P1 đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án tỉnh. Về nội dung: Án sơ thẩm chưa làm rõ nguồn gốc đất đôi bên đang tranh chấp; chưa làm rõ hiện trạng các bên đang sử dụng. Với những vi phạm nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thẩm quyền.
Bị đơn thống nhất quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền lợi trình bày tại phiên tòa.
- * Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T thống nhất rút lại diện tích đất tranh chấp từ 1013,5m² xuống còn 603,7m² (giảm 409,8m²) theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ3; thống nhất giá trị tài sản do Hội đồng định giá đã định. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ di dời căn nhà diện tích 94m² thuộc thửa số 30 và thửa số 32, tờ bản đồ số 30, trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn quản lý sử dụng; không đồng ý bị đơn trả giá trị quyền sử dụng đất; không đồng ý hỗ trợ bị đơn chi phí tháo dỡ di dời căn nhà. Tự nguyện chịu chi phí tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm.
Luật sư Phạm Hữu P bảo vệ quyền lợi nguyên đơn thống nhất việc bà Nguyễn Thị T rút diện tích đất tranh chấp theo quyết định bản án sơ thẩm 816,4m² còn lại 603,7m². Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tháo dỡ di dời căn nhà có diện tích theo Bản trích đo hiện trạng khu đất là 94,0m². Trong đó, diện tích 5,6m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30 và diện tích 88,4m² thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 30. Riêng một phần diện tích căn nhà 5,1m², thuộc thửa 19 tờ bản đồ số 30 thuộc quyền quản lý của người sử dụng đất kế cận. Về nguồn gốc đất, đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm xem xét các chứng cứ sau: 1. Lời trình bày diện tích đất tranh chấp giữa ông Phạm Kiến L1 với ông Phạm Kiến Q còn mâu thuẫn (ông L1 khai diện tích 604,3m², ông Q khai diện tích 960m²). 2. Bị đơn căn cứ vào Tờ trích lục địa bộ ngày 31/10/1988 của Ban Quản lý Ruộng đất tỉnh A trích lục cấp cho ông Phạm Kiến L1 để chứng minh quyền thừa hưởng đất từ ông bà để lai. Tuy nhiên, các số thửa của địa bộ cũ hoàn toàn không phù hợp với Bản đồ hiện trạng đất tranh chấp, thậm chí tên gọi cũng khác nhau.
- * Người sử dụng đất kế cận đất tranh chấp, ông Đinh Ngọc T10 thống nhất Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025. Đối với diện tích tranh chấp, tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút lại còn tranh chấp với bị đơn 603,7m² là không ảnh hưởng gì đến quyền lợi của ông. Diện tích tranh chấp trên thuộc thửa đất số 30, số 32 tờ bản đồ số 30. Hiện ông đang quản lý sử dụng và trồng cây trên đất thuộc thửa 19, tờ bản đồ số 30 không liên quan gì đến đất đang tranh chấp. Ông rút lại yêu cầu không tham gia gì vào vụ án. Riêng một phần diện tích căn nhà của ông Q và của ông K cất trên thửa số 19 ông đang sử dụng, ông sẽ tự thỏa thuận, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật;
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bảo vệ quyền lợi bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm với các lý do: nguyên đơn chưa nộp tạm ứng án phí sơ thẩm; thẩm quyền hủy giấy thuộc Tòa án cấp tỉnh; con của ông Q bà L tên Phạm Kiến P1 đi N nhưng không được Tòa án tống đạt hợp lệ. Xét yêu cầu hủy án sơ thẩm của bị đơn trình bày không có cơ sở chấp nhận.
- - Về nội dung: Chứng cứ có trong hồ sơ xác định nguồn gốc đất bà T được cha mẹ chồng cho đất cất nhà ở từ năm 1986, quá trình sử dụng bà T có cung cấp các biên lai nộp thuế sử dụng đất. Tại các biên bản hòa giải của xã và các tài liệu chứng cứ thể hiện qua hồ sơ của Thanh tra huyện C xác định bà T có quá trình sử dụng đất từ năm 1986 đến khi ông L1 ngăn cản việc bà T kê khai, xin cấp quyền sử dụng đất. Thời điểm ông L1 tiến hành xây dựng nhà, bà T đã có đơn ngăn cản, ông L1 bị Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính hành vi xây dựng không phép và không có quyền sử dụng đất. Quá trình tố tụng, bị đơn cung cấp cho Tòa án Trích lục địa bộ nhưng Văn phòng Đ2 - Chi nhánh C2 trả lời không xác định phần đất đang tranh chấp nằm trên trích lục địa bộ. Xét việc bà T tranh chấp quyền sử dụng đất với ông L1, ông Q phát sinh từ năm 1997; bà T có quá trình sử dụng ổn định, liên tục. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận để bà T tiếp tục sử dụng đất là có căn cứ. Phía ông L1, ông Q tự ý cất nhà trên đất thuộc quyền sử dụng của bà T là trái pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút lại một phần diện tích tranh chấp do vi phạm hành lang lộ giới, đất Trạm y tế Bình Phước X và đất tại thửa số 19 tờ bản đồ số 30 là phù hợp với hiện trạng sử dụng đất và có lợi cho phía bị đơn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, xét thấy phía bị đơn cất nhà từ năm 2001 sử dụng đến nay đã trên 20 năm nên cần tiếp tục cho bị đơn sử dụng ổn định. Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm, công nhận bị đơn được sử dụng diện tích đất gắn liền căn nhà 94m², cùng với lối đi vào nhà diện tích 6,5m², (tổng cộng được sử dụng 100,5m²), đồng thời buộc bị đơn trả giá trị (bao gồm diện tích căn nhà và lối đi) theo kết quả định giá của Hội đồng định giá; diện tích còn lại 503,2m² buộc bị đơn có trách nhiệm giao trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T quản lý, sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của Luật sư, của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Đại diện bị đơn ông Phạm Kiến Q và ông Phạm Kiến L1 kháng cáo đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xử vắng mặt và những người đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hiện trạng đất tranh chấp: Các bên không thống nhất diện tích đất. Cụ thể: Nguyên đơn xác định diện tích là 1013,5m²; bị đơn xác định diện tích là 933,8m²; người sử dụng đất liền kề (mặc dù không tranh chấp) nhưng xác định diện tích đang sử dụng là 547m². Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ3, theo chỉ dẫn của các bên đều có sự chồng lấn như sau:
- - Chồng lấn diện tích 24m² với đất thuộc Trạm y tế xã B, đã được cấp GCNQSDĐ số CT00832, diện tích 1127,1m² do Sở T cấp ngày 06/12/2010.
- - Chồng lấn với hành lang lộ giới, nguyên đơn và bị đơn xác định 6,1m²; người sử dụng đất liền kề (ông T10) xác định là 3,1m².
- - Chồng lấn với diện tích đất cấp cho hộ ông Tạ Hữu M1 bà Nguyễn Thị Mỹ D2 đã được cấp GCNQSDĐ số CS02884 (nguyên đơn xác định diện tích là 4,6m²; bị đơn xác định diện tích là 0,7m²).
- - Chồng lấn với diện tích đất của ông Đinh Ngọc T10 đang sử dụng tại thửa số 19, tờ bản đồ số 30 (nguyên đơn chỉ ranh chồng lấn 375,1m²; bị đơn chỉ ranh chồng lấn 299,3m²).
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, qua công khai kết quả đo đạc hiện trạng khu đất theo bản vẽ ngày 17/6/2025 của Công ty TNHH Đ3, nguyên đơn thống nhất rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với diện tích 409,8m², (từ 1013,5m² còn 603,7m²). Cụ thể: không yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 24m² với Trạm y tế xã B; không đòi quyền sử dụng diện tích đất 6,1m² thuộc phạm vi hành lang giao thông; không yêu cầu đòi quyền sử dụng đất diện tích 4,6m² thuộc quyền sử dụng của ông M1, bà D2. Đồng thời, nguyên đơn xác định không yêu cầu tranh chấp diện tích đất chồng lấn 375,1m² với ông Đinh Ngọc T10 tại thửa số 19, tờ bản đồ số 30; phía ông Đinh Ngọc T10 không yêu cầu tranh chấp diện tích đất thuộc thửa số 30, 32 tờ bản đồ số 30; các bên không yêu cầu xem xét giá trị cây trồng trên đất nên Hội đồng xét xử không đề cập. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, diện tích 409,8m², bao gồm: 24m² đất thuộc Trạm y tế xã B; 6,1m² đất thuộc phạm vi hành lang giao thông; 4,6m² đất thuộc quyền sử dụng của ông M1, bà D2 và 375,1m² đất ông Đinh Ngọc T10 đang sử dụng.
[4] Xác định diện tích đất tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị T với ông Phạm Kiến L1, ông Phạm Kiến Q giới hạn tại các điểm 87, 88, 90, 23, 50, 97, gồm: thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30 có diện tích 160,5m² và thửa đất số 32, tờ bản đồ số 30 có diện tích 443,2m². Tổng diện tích đất tranh chấp 2 thửa trên là 603,7m². Trên đất tranh chấp có vật kiến trúc như sau: 1. Căn nhà ông K (10,9m²); 2. Căn nhà ông Q (94m²); 3. Căn nhà bà T 39,9m² và bồn nước 3,2m². Ngoài ra, trên đất không còn vật kiến trúc, cây lâu năm, cây ăn trái nào khác.
[5] Nhà của ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L sinh sống cùng các con là Phạm Bảo N, Phạm Kiến P1 loại nhà cấp 4 kết cấu mái tôn, vách tường, nền lát gạch, cột bê tông. Căn nhà và công trình phụ của ông Q, bà L có tổng diện tích 99,1m², giới hạn tại các điểm 103, 44, 8, 9, 10, 16, 17, 18, 19, 20, 83, 82, 104. Trong đó, diện tích 5,1m² tại các điểm 45, 103, 104, 46 thuộc thửa 19 tờ bản đồ số 30 (diện tích đất do ông T10 đang quản lý, sử dụng). Diện tích còn lại là 94m², trong đó có 5,6m² thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 30 và 88,4m² thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 30. Ngoài ra, Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025 còn thể hiện lối đi vào nhà ông Q diện tích 6,5m².
[6] Xét yêu cầu kháng cáo của đồng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Kiến L1: Chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, tại Quyết định số 25/2019/QÐST-DS ngày 26/9/2019 của Tòa án nhân dân tinh An Giang chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới tiếp tục thụ lý giải quyết theo thẩm quyền, do đó cấp sơ thẩm không vi phạm thẩm quyền xét xử theo quy định tại Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại bút lục số 42 thể hiện tòa án nhân dân huyện Chợ Mới có ra thông báo miễn nộp tạm ứng án phí sơ thẩm là đúng với quy định tại Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đối với kháng cáo của bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm chưa tống đạt hợp lệ cho anh Phạm Kiến P1 là thiệt hại quyền lợi của đương sự. Xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, cấp sơ thẩm đã đưa anh P1 tham gia tố tụng tư cách đồng bị đơn, theo lời trình bày của đồng bị đơn tại phiên tòa, thời điểm P1 đi học tập, lao động ở N sau khi Tòa án thụ lý vụ án. Như vậy, quá trinh thu thập chứng cứ và hòa giải cấp sơ thẩm đã đảm bảo đầy đủ quyền lọi của anh P1. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Kiến L1 hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng không có cơ sở xem xét.
[7] Về nguồn gốc đất: Qua xem xét các tài liệu, các biên bản hòa giải của Ban ấp B, của Ủy ban nhân dân xã B, qua ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện nguồn gốc khoảng 1000m² đất vườn nằm cạnh lộ nông thôn cặp rạch C, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, là của cụ Phạm Văn Đ1, cụ Lê Thị Bích tạo L5 từ trước năm 1975. Sau khi 2 cụ mất, các con tiếp tục quản lý, sử dụng. Vào năm 1986 gia đình bên chồng của bà T gồm mẹ chồng là bà Phạm Thị N4, cùng có sự chứng kiến của cậu chồng tên Phạm Hùng N3, thống nhất cho lại vợ chồng bà diện tích đất trên để cất nhà ở, đồng thời quản lý sử dụng từ đó đến nay. Việc tặng cho đất nêu trên được ông Nguyễn Ngọc N1 là con bà Phạm Thị T8 xác nhận. Giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, có nhiều ý kiến của người làm chứng xác định bà T là người sử dụng đất ổn định, ngay tình; quá trình sử dụng lâu dài gần 40 năm. Có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của người sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện C xác định đất không thuộc diện quy hoạch, không vi phạm công trình kiến trúc hoặc hành lang lộ giới, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T tiếp tục sử dụng diện tích 603,7m², đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn căn cứ trích lục địa bộ đứng tên cụ nội tên Phạm Văn L3 để lại cho cha là Phạm Kiến L1, ông L1 để lại cho con là Phạm Kiến Q. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày của ông L1, ông Q về nguồn gốc đất của ông bà để lại thì không chứng cứ nào chứng minh diện tích đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của cụ Phạm Văn L3 để lại cho ông L1, ông Q. Văn phòng Đ2 – Chi nhánh C2 có văn bản số 150/CNCM ngày 09/6/2021 trả lời không thể xác định diện tích đất tranh chấp nằm trong trích lục địa bộ năm 1988. Xét thấy, từ khi ông L1 xây nhà trên đất tranh chấp thì bà T khiếu nại liên tục, gay gắt nhưng ông L1, ông Q vẫn tiến hành xây cất. Việc làm của ông L1 đã bị Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt hành chính theo Quyết định số: 2191/QĐ.UB ngày 26/11/2002 vì đã có “Xây dựng công trình không có giấy phép, chưa có quyền sử dụng đất”. Điều này chứng tỏ ông L1, ông Q tự ý chiếm đất sử dụng là hành vi trái pháp luật.
Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện viện kiểm đề nghị Hội đồng xét xử công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, quan điểm trên của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với luận cứ của luật sư bảo vệ quyền lợi hợp pháp nguyên đơn. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục để vợ chồng ông Q cùng các con tiếp tục sử dụng diện tích căn nhà, trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà T theo giá đã định.
[8] Các biên bản xác minh thể hiện ông Phạm Kiến L1, Phạm Kiến Q ngoài căn nhà cất trên đất tranh chấp, ông L1 còn đứng tên quyền sử dụng đất khác thuộc ấp B, xã B. Như vậy, ông L1, ông Q có điều kiện tháo dỡ di dời nhà đến nơi ở khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn thị T giữ nguyên yêu cầu buộc ông Phạm Kiến Q tháo dỡ, di dời toàn bộ căn nhà diện tích 94m² tại các điểm 103, 44, 8, 9, 10, 16, 17, 18, 19, 20, 83, 82, 104; trả quyền sử dụng đất 603,7m² thuộc các thửa đất số 30, 32 tờ bản đồ số 30 tại các điểm 87, 88, 90, 23, 50, 97. Bà Nguyễn Thị T không đồng ý nhận bồi hoàn giá trị, không đồng ý hỗ trợ chi phí tháo dỡ di dời. Như vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa công nhận cho bị đơn quyền sử dụng diện tích căn nhà, đồng thời trả giá trị quyền sử dụng đất không được nguyên đơn đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận.
[9] Đối với căn nhà ông Huỳnh Tuấn K diện tích (10,9m²), giữa bà T với ông K thỏa thuận việc di dời di dời, nếu không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện vụ án khác.
[10] Bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích 603,7m², thuộc thửa đất số 30 và số 32, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Vì vậy, bà T có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với phần diện tích trên.
[11] Về thời gian lưu cư: Do yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn tháo dỡ, di dời nhà, trả quyền sử dụng đất được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ vào điều kiện thực tế, Hội đồng xét xử quyết định thời gian lưu cư cho đồng bị đơn là 6 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[12] Qua diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm có nhiều thay đổi so với quyết định của Bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm.
[13] Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng giai đoạn xét xử phúc thẩm, bao gồm: chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc và định giá nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[14] Về án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên không ai phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông Phạm Kiến Q được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng phí số 0013244 ngày 04/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
[15] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Kiến L1, ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 120/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Căn cứ Điều 100, Điều 166 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 166; Điều 236 Bộ Luật dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Buộc ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L, chị Phạm Bảo N, anh Phạm Kiến P1 có nghĩa vụ tháo dỡ di dời nhà và công trình phụ diện tích 94m², tại các điểm 103, 44, 8, 9, 10, 16, 17, 18, 19, 20, 83, 82, 104. Giao lại cho bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng diện tích 603,7m² tại các điểm 87, 88, 90, 23, 50, 97 (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025 của Công ty TNHH Đ3), thuộc thửa đất số 30, số 32, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Thời gian lưu cư của ông Phạm Kiến Q, bà Nguyễn Thị Như L, chị Phạm Bảo N, anh Phạm Kiến P1 là 6 tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị T được sử dụng diện tích 603,7m² tại các điểm 87, 88, 90, 23, 50, 97, theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025 của Công ty TNHH Đ3. Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với phần diện tích đất nêu trên.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T diện tích 409,8m². Cụ thể: Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với các diện tích đất sau: 24m² đất thuộc Trạm y tế xã B; 6,1m² đất thuộc phạm vi hành lang giao thông; 4,6m² đất thuộc quyền sử dụng của ông Tạ Hữu M1 bà Nguyễn Thị Mỹ D2; 375,1m² đất ông Đinh Ngọc T10 đang sử dụng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đòi ông Phạm Kiến L1, ông Phạm Kiến Q bồi thường thiệt hại đối với nhà và cây cối trên đất.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Kiến Q và yêu cầu độc lập của ông Phạm Kiến L1 yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho Trạm y tế xã B số CT 00832 ngày 06/12/2010 diện tích 1.127,1m², thửa đất số 20, 18, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phạm Kiến L1 đòi bà Nguyễn Thị T trả lại căn nhà gỗ, cột tròn, cây căm xe, cà chất, mái ngói xưa (loại ngói 01 đầu tròn, 01 đầu ngang) xung quanh dựng vách ván thao lao ngang 8m, dài 15m.
(Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 17/6/2025 của Công ty TNHH Đ3 là một phần không tách rời của bản án).
Án phí dân sự phúc thẩm: không ai phải chịu.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thuận Tùng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Tấn Tài Phan Thị Minh Tâm | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thuận Tùng |
Bản án số 153/2025/DS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 153/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đất