|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------------- |
|
Bản án số: 153 /2024/HSST Ngày: 18/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG.
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Đạt
Ông Nguyễn Văn Cát
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:132/2024/TLST-HS ngày 24/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q ( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 01 tháng 7 năm 2000; Tại: Tuyên Quang; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà: Hứa Thị H ; Có vợ là Hoàng Thị Thùy L ( đã ly hôn ); Có 01 con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
*Bị hại: Chị Lò Thị Mai L1, sinh năm 2002; Trú tại: Xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Số F, tổ C phố X, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Q, sinh năm(SN) 2000, trú tại: thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, thuê trọ tại tổ A phường P, quận H, TP . Hà Nội và chị Lò Thị Mai L1, SN 2002, trú tại: xã C, huyện M, tỉnh Sơn La có quan hệ quen biết với nhau. Sáng ngày 27/3/2024, chị L1 một mình điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, BKS 26K1-276.44 đến phòng trọ của Q chơi và ở lại phòng trọ ăn trưa cùng với Q. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, L1 có ý định về đi làm. Lúc này, do Q cần tiền chi tiêu cá nhân nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy trên của L1 đem đi cầm cố. Để thực hiện ý định trên, Q giả vờ hỏi mượn chiếc xe máy Honda Wave BKS 26K1-276.44 của L1 đê đi làm, hẹn đến tối sẽ frà cho L1. Ly tin tưởng và đồng ý cho Q mượn chiếc xe máy trên. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, Q chở L1 đến chỗ làm của L1 ở số A đường P, phường P, quận H, TP Hà Nội để L1 vào đi làm. Q điều khiển chiếc xe máy Honda Wave BKS 26K1-276.44 của L1 đi đến khu vực phố X, phường P, quận H, TP . Hà Nội tìm nơi cầm cố. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, Q đi đến cửa hàng cầm đồ “H" ở số F tổ C phố X, phường P, quận H, TP . Hà Nội do anh Đàm Văn H1 làm chủ. Tại đây, Q gặp chị Nguyễn Thị X, SN 1979 (là vợ của anh H1) đặt vấn đề muốn cầm cố chiếc xe máy trên. Chị X có hỏi nguồn gốc và giấy tờ xe thì Q nói dối chị X, là xe của Q nhưng giấy tờ xe để quên ở nhà. Do xe không có giấy tờ, nên chị X không nhận cầm cổ chiếc xe máy trên. Sau đó, Q điều khiển chiếc xe máy trên đến nhà anh Nguyễn Công C1, SN 1979, trú tại: số G tổ G H, phường P, quận H, TP . Hà Nội để nhờ anh C1 đến cửa hàng cầm đồ “H”, nói với chị X cho Q cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 26K1-276.44. Do chị X là chỗ quen biết với anh C1 nên anh C1 đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Q điều khiển chiếc xe máy Honda Wave BKS 26K1-276.44 của chị L1 phía sau chở anh C1 đến cửa hàng cầm đồ “H” gặp chị X. Do anh C1 là chỗ quen biết với chị X, nên lần này chị X đồng ý nhận cầm cố chiếc xe máy trên cho Q lấy số tiền 6.000.000 đồng, không viết giấy tờ, lập hợp đồng cầm cố gì, Q hẹn với chị X là sau 1-2 ngày thì sẽ đến chuộc lại chiếc xe máy trên, chị X đồng ý. Sau khi giao chiếc xe cho chị X, chị X đã đưa cho Q số tiền 6.000.000 đồng, C1 đi về còn Q đã đi chơi và tiêu cá nhân hết số tiền. Đến tối cùng ngày 27/3/2024, chị L1 liên lạc với Q bảo Q đem xe về trả cho L1, thì Q nói dối L1 là đang đi làm trên Hòa Bình và hẹn hôm sau sẽ đem xe về trả cho L1. Nhưng đến hôm sau Q không có tiền chuộc xe về trả cho L1, L1 đã liên lạc với Q nhiều lần, thì lúc này Q mới nói với L1 là đã đem chiếc xe trên đi cầm cố. L1 không đồng ý và yêu cầu Q chuộc xe về trả cho L1. Quyết hẹn Ly sau 1- 2 hôm sẽ chuộc xe về trả cho L1, nhưng sau đó Q cũng không chuộc xe về trả cho L1.
Ngày 04/04/2024, L1 có đơn tố giác hành vi của Nguyễn Văn Q đến Công an phường P, quận H.
Ngày 05/4/2024, Nguyễn Văn Q đã đến Công an phường P xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trên của bản thân.
* Vật của vụ án đã thu giữ:
- - Chị Nguyễn Thị X tự nguyện giao nộp: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh bạc, BKS 26K 1-276.44, đã qua sử dụng, là chiếc xe Quyết đã chiếm đoạt của chị Lò Thị Mai L1.
- - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 26000781 do Lò Thị Mai L1 giao nộp.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen,số Imel1: 868308059378875, số Imel 2: 868308059378883 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Q.
Ngày 05/04/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H đã có yêu cầu định giá tài sản số 3058 đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave mầu xanh bạc BKS: 26K1-276.44. Tại biên bản họp và Két luận định giá số 67/KL-HDĐGTS ngày 05/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: “Giá trị tài sản 01 (một) 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave mầu xanh bạc BKS 26K1-276.44, số máy JA39E3069412, số khung RLHJA3921PY448430 (đã qua sử dụng, đã thu được tang vật) giá trị: 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) (BL 31-34).
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc BKS 26K1-276.44 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy đã thu giữ. Ngày 13/04/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, đã ra Quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trả lại cho chị Lò Thị Mai L1. Sau khi nhận lại tài sản, chi Lò Thị Mai L1 không có yêu cầu, đề nghị gì về phần bồi thường trách nhiệm dân sự.
Đối với cửa hàng C2 có Giấy chứng nhận hộ king doanh, ngày 27/03/2024 chị Nguyễn Thị X nhận cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave mầu xanh bạc BKS: 26K1-276.44 của Nguyễn Văn Q, chị X không biết chiếc xe trên do Q phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý đối với chị X về hành vi: Tiêu thụ tái sản do người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên khi nhận cầm cố chiếc xe máy trên, chị X không lập họp đồng cầm cố, không thu giữ Giấy chứng nhận đăng ký xe máy của chiếc xe nhận cầm cố, nên hành vi của Nguyễn Thị X đã vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Vì vậy ngày 8/05/2024 Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 299/QĐ-XPHC xử phạt Nguyễn Thi X1 số tiền 7.500.000 đồng (bẩy triệu năm trăm nghìn) là thỏa đáng.
Đối với Nguyễn Công C1, khi được Q nhờ đi cùng để cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave mầu xanh bạc BKS: 26K 1-276.44, khi đi anh C1 không biết chiếc xe trên do Q phạm tội mà có, không có sự trao đổi, bàn bạc gì, sau khi cầm cố được chiếc xe trên, anh C1 khổng được hường lợi hoặc được Q cho tiền. Vì vậy Cơ quan điều tra chưa đủ cơ sở để xử lý đối với Nguyễn Công C1 về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ.
Trước Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 127/CT-VKS-HĐ ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Quyết về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tài sản” theo quy định tại khoản1 Điều 174 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và Viện kiểm sát truy tố bị cáo như vậy là đúng người, đúng tội, không bị oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị X1 số tiền là 6.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Q: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen,số Imell: 868308059378875, số I: 868308059378883.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 27/03/2024, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Nguyễn Văn Q đã có hành vi gian dối chiếm đoạt của chị Lò Thị Mai L1 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, BKS 26K1-276.44 trị giá 21.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe của chị L1, Nguyễn Văn Q đã mang đi cầm cố lấy số tiền 6.000.000 đồng, sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải có mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] .Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
[4] .Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại Lò Thị Mai L1 không yên cầu N bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị X yêu cầu Nguyễn Văn Q bồi thường số tiền 6.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Khi bị cáo đi cầm cố chiếc xe máy, chị X có hỏi bị cáo về nguồn gốc chiếc xe và giấy tờ xe thì bị cáo nói dối chị X là xe của bị cáo, nhưng giấy tờ để quên ở nhà và khi chị X không đồng ý nhận cầm cố thì bị cáo lại nhờ đến mối quan hệ với anh Nguyễn Công C1 đến cửa hàng của chị X nói với chị X cho bị cáo cầm cố chiếc xe nên chị X mới đồng ý cho bị cáo cầm cố, do vậy cần buộc bị cáo phải trả cho chị X số tiền 6.000.000 đồng theo quy định tại Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, số Imell: 868308059378875, số Imel 2: 868308059378883 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử xét thấy: Chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[7] . Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 23 của nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[8] . Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 12 ( mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Q: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu đen, số Imell: 868308059378875, số Imel 2: 868308059378883 ( theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 584, Điều 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền là 6.000.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ, nếu người phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Thủy |
Bản án số 153/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 153/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Q
