Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HSST

Ngày: 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tài

2. Bà Đinh Thị Mỹ Hằng

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1972 tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ (Đã chết) và bà: Trần Thị C; Chồng: Nguyễn Văn G (Đã chết), có 03 con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/7/2024; bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024 đến ngày 05/8/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

2. Nguyễn Văn B (Tên gọi khác: Quá), Sinh năm: 1993; tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn G (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị T; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/7/2024; bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024 đến ngày 05/8/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

3. Nguyễn Thị Bé D, Sinh năm: 1996, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn G (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị T; Chồng: Nguyễn Thanh V (Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/7/2024; bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024 đến ngày 05/8/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để kiếm tiền trang trải cuộc sống thì bà Nguyễn Thị T có mở quầy bán vé số, việc bán vé số là do con bà T gồm Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D thực hiện. Tuy nhiên, do người mua vé số có nhu cầu ghi số đề và để kiếm thêm thu nhập thì Nguyễn Thị T còn tiến hành ghi số đề, cụ thể do không biết chữ nên Nguyễn Văn B Nguyễn Thị Bé D là hai người con của T phụ giúp, B là người ghi chính, còn D thì phụ giúp việc cơm nước và khi B, T bận thì trông coi quầy và ghi đề; Thời gian ghi số đề từ khoảng 07 giờ đến 16 giờ, B hoặc D sẽ trực tiếp ghi đề theo yêu cầu của người chơi số đề vào các phơ đề (các tờ vé số cũ có in chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”) rồi đưa phơ đề cho người chơi và nhận tiền cược. Sau đó, sẽ ghi lại số lô, số đề cùng tiền cược của người chơi vào sổ để theo dõi kết quả. Đến 16 giờ hàng ngày, B sẽ tổng hợp lại số tiền cược và đưa cho T. T sẽ tổng kết tiền hàng ngày và chung chi cho người chơi số đề. Kết thúc ngày, B đem đi đốt, tiêu hủy các phơ đề trúng thưởng cùng các tờ giấy ghi lô, đề. Số tiền thu lợi từ việc đánh bạc bằng hình thức ghi lô, đề do T quản lý, sử dụng vào việc chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày của T và B; riêng D có gia đình riêng nên được T thỉnh thoảng cho tiền để tiêu xài, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

Về cách thức chơi lô, đề như sau: Việc ghi lô, đề và tính kết quả ăn thua căn cứ vào kết quả xổ số đài miền N và đài xổ số miền B, nhưng chủ yếu là ở các đài miền N, với các cách thức chơi như sau:

- “Số đề”: Người chơi số đề đến ghi đề sẽ yêu cầu ghi số có hai chữ số bắt đầu từ 00 đến 99 và đặt tiền cược, B hoặc D sẽ nhận tiền và ghi số theo yêu cầu của người chơi vào sổ, đồng thời đưa cho người chơi đề một tờ vé số cũ ở mặt sau có ghi số tương ứng, có dấu mộc xanh “VÉ SỐ NHƯ Ý” hoặc “VÉ SỐ NHƯ Ý, Quá” được gọi là “phơ” để tiến hành đối chiếu khi có kết quả. Nếu người chơi chỉ ghi “số đề” thì sẽ căn cứ vào hai số cuối của giải tám, nếu đánh “đầu, đuôi” thì sẽ căn cứ vào hai số cuối của giải tám và giải đặc biệt để tính khi trúng thưởng. Tỷ lệ cá cược là 01 ăn 70 đối với cả đài miền N và đài miền B. Kết quả ăn thua căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số của đài miền N (16 giờ 15 phút đến 16 giờ 35 phút) và đài miền B (18 giờ 15 phút đến 18 giờ 35 phút).

- “Bao lô”: Với cách chơi “bao lô” thì căn cứ vào hai số cuối của tất cả các giải của mỗi đài, mỗi giải gọi là một “lô”, từ giải tám đến giải đặc biệt của mỗi đài có 18 giải, tổng cộng là 18 lô. Khi người chơi đặt lô nào thì sẽ tính tiền lô đó, khi “bao lô” cả 18 lô thì chỉ lấy tiền đặt cược cho 15 lô, không lấy tiền 03 lô vì đây là khuyến mãi cho người chơi, tỷ lệ cá cược là 01 ăn 70 đối với cả đài miền N và đài miền B.

- “Xỉu chủ”: Với cách chơi “xỉu chủ” thì căn cứ vào ba số cuối của giải bảy và giải đặc biệt (chỉ tính đài miền N), nếu số của người chơi trúng một trong hai giải thì được coi là thắng cược một giải, nếu số của khách trúng hai giải thì được coi là thắng cược cả hai giải, tỷ lệ cá cược là 01 ăn 600.

- “Số đá":

+ Số “đá thẳng”: Với cách chơi “đá thẳng” thì căn cứ vào hai số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt của mỗi đài (chỉ tính đài miền N), nếu số của người chơi có hai số trở lên trùng với giải thì được coi là thắng cược, tỷ lệ cá cược là 01 ăn 600.

+ Số “đá xiên”: Với cách chơi “đá xiên” thì căn cứ vào hai số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt (chỉ tính đài miền N), nếu số của người chơi có hai số đều trùng với giải thì được coi là thắng cược, tỷ lệ cá cược là 01 ăn 500 cho 02 số đá, 01 ăn 1.500 cho 03 số đá. (Bút lục: 54–55, 97–111, 121 – 140, 155 – 171).

Vào sáng ngày 30/7/2024, khoảng 07 giờ thì D bán vé số và ghi lô, đề. Đến khoảng 08 giờ, thì B ghi, còn D đi chợ, nấu ăn và đến trưa thì đem cơm lên cho T và B. Trong lúc B ăn cơm hoặc bận công việc gì khác thì D trực tiếp ghi lô, đề và thu tiền. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi B đang ghi lô, đề cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1964, thì bị lực lượng Công an xã T bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ tại tủ bán vé số:

  • + Số tiền 11.544.000 đồng, gồm: 10 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 12 tờ mệnh giá 200.000 đồng, 30 tờ mệnh giá 100.000 đồng, 13 tờ mệnh giá 50.000 đồng, 09 tờ mệnh giá 20.000 đồng, 24 tờ mệnh giá 10.000 đồng, 10 tờ mệnh giá 5.000 đồng, 10 tờ mệnh giá 2.000 đồng và 04 tờ mệnh giá 1.000 đồng;
  • + 01 con dấu mộc màu xanh có chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”;
  • + 01 cây viết màu xanh đã qua sử dụng;
  • + 01 cuốn sổ tay có bìa màu hồng, kích thước (15x10,5)cm, bên trong có 03 tờ đầu tiên ghi nội dung lô đề, các tờ sau chưa ghi nội dung gì;
  • + 07 tờ vé số, gồm: 05 tờ có số seri 728516 được đánh dấu lần lượt C, D, E, F, L và 02 tờ có số seri 579751 được đánh dấu lần lượt D, E của Công ty xổ số thành phố H ngày 14-08-2023, mặt sau các tờ vé số có ghi “30/7” và in chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”, “Quá”.

- Thu giữ trên người: Nguyễn Thị T (sinh năm: 1972) 01 điện thoại Oppo màu đen, đã qua sử dụng; Nguyễn Văn B 01 điện thoại Samsung màu xanh nước biển, đã qua sử dụng; Nguyễn Thị B1 Duyên 01 điện thoại Samsung màu vàng, đã qua sử dụng.

- Thu giữ trên người Nguyễn Thị T (sinh năm: 1964) 01 tờ vé số có số seri 564570 của Công ty X ngày 19-08-2023, mặt sau tờ vé số in chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”, “QUÁ” và ghi “30/7”, “3D BL59-10”, “VT 59D69-2”, “BL 13-10”, “660”. (Bút lục: 47 – 49).

Qua kiểm tra sổ ghi đề và phơ đề, xác định B và D đã ghi tổng cộng 51 phơ lô, đề với tổng số tiền đã nhận là 9.317.000 đồng (có phụ lục kèm theo), trong đó B ghi 26 phơ đề, số tiền nhận cược là 5.530.000 đồng, D ghi 25 phơ đề, số tiền nhận cược là 3.787.000 đồng. Trong số 51 phơ đề này, hầu hết là người chơi vãng lai, không xác định được nhân thân lai lịch, chỉ xác định được người đánh lô, đề bị bắt quả tang là bà Nguyễn Thị T với số tiền đánh lô, đề là 660.000 đồng, cụ thể: Bao lô 03 đài ngày 30/7/2024 là Vũng Tàu, Bến Tre, Bạc Liêu con số 59 với số tiền 10.000 đồng/con/đài; Số đá đài Vũng Tàu con số 59 và 69 với số tiền 2.000 đồng/con; Bao lô đài Vũng Tàu con số 13 với số tiền 10.000 đồng/con. (Bút lục: 56 – 68).

Vật chứng thu giữ gồm:

  • + Số tiền 11.544.000 đồng (gồm 9.317.000 đồng tiền đánh bạc và 2.227.000 đồng của Nguyễn Thị T đảm bảo thi hành án); 01 con dấu mộc màu xanh có chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”; 01 cây viết màu xanh đã qua sử dụng; các vật chứng này hiện Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi quản lý.
  • + Đối với 01 cuốn sổ tay có bìa màu hồng, kích thước (15x10,5)cm, bên trong có 03 tờ đầu tiên ghi nội dung lô đề, các tờ sau chưa ghi nội dung gì; 07 tờ vé số, gồm: 05 tờ có số seri 728516 được đánh dấu lần lượt C, D, E, F, L và 02 tờ có số seri 579751 được đánh dấu lần lượt D, E của Công ty xổ số thành phố H ngày 14-08-2023, mặt sau các tờ vé số có ghi “30/7” và in chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”, “Quá”; 01 tờ vé số có số seri 564570 của Công ty X ngày 19-08-2023, mặt sau tờ vé số in chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”, “QUÁ” và ghi “30/7”, “3D BL59-10”, “VT 59D69-2”, “BL 13-10”, “660”, được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • + Đối với 03 điện thoại thu giữ của B, D và T, qua kiểm tra không phát hiện nội dung gì liên quan đến việc đánh bạc nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại cho T, B và D trong giai đoạn điều tra. (Bút lục: 112, 147, 174).

Tại bản cáo trạng số: 157/CT-VKSLG-HS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung cáo trạng nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D, đều phạm tội: “Đánh bạc”.

Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bé D mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dấu mộc màu xanh có chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”; 01 cây viết màu xanh đã qua sử dụng

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.317.000 đồng đang tạm giữ tại Chi cục hành án dân sự thị xã L. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T số tiền 2.227.000 đồng

Các bị cáo đều khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

Các bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội vừa lao động vào chấp hành hình phạt để chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố. Xét, lời khai của các bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ để khẳng định: Đây là vụ án “Đánh bạc” bằng hình thức ghi số lô, số đề do các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D cố ý thực hiện. Cụ thể, để kiếm tiền trang trải cuộc sống thì bà Nguyễn Thị T có mở quầy bán vé số, việc bán vé số là do Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D phụ bà T bán. Do người mua vé số có nhu cầu ghi số đề và để kiếm thêm thu nhập thì Nguyễn Thị T còn nhận thêm ghi số đề cho những người mua vé số khi có nhu cầu. vào sáng ngày 30/7/2024 tại quầy vé số Như Ý thuộc thôn B, xã T, thị xã L, Nguyễn Thị T cùng với Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D có hành vi ghi số lô, đề cho nhiều người chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Văn B đang có hành vi bán số lô, số đề cho Nguyễn Thị T (sinh năm: 1964) với số tiền là 660.000 đồng thì bị Đội Cảnh sát Hình sự Công an thị xã L phối hợp với Công an xã T bắt quả tang.

Tại thời điểm bắt quả tang chưa có kết quả lô, đề, nên số tiền xác định để đánh bạc của T, B, D là tổng số tiền cược đã nhận của người chơi đề trong ngày 30/7/2024 là 9.317.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền mà không được pháp luật cho phép đều bị nghiêm cấm. Chỉ vì mục đích tư lợi, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Hành vi của các bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng. Do đó, cần phải xử lý một cách nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, xuất phát từ việc bán vé số kiếm thu nhập trang trải cuộc sống và khi khách có nhu cầu ghi số đề thì các bị cáo nhận ghi thêm số đề để kiếm thêm thu nhập. Các bị cáo là thành viên trong gia đình nên cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội mà không có sự tổ chức, phân công vai trò cụ thể của từng bị cáo, ai rảnh thì bán vé số và ghi đề khi người chơi có nhu cầu. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Thị T là người tổng kết tiền hàng ngày và chung chi cho người chơi đề nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo khai báo thành khẩn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Hoàn cảnh gia đình khó khăn; Bị cáo Nguyễn Thị Thu C1 chết, một mình nuôi các con; Bị cáo Nguyễn Văn B bị khuyết tật nặng, có giấy xác nhận khuyết tật của UBND xã T và được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng; Bị cáo Nguyễn Thị Bé D đã ly hôn, đang trực tiếp nuôi con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, riêng bị cáo B áp dụng thêm tình tiết điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
  • Bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; các bị cáo đều có nhân thân tốt; Bị cáo T là lao động duy nhất trong gia đình, đang trực tiếp nuôi đối tượng chính sách, hưởng phụ cấp hàng tháng, nếu bị cáo phải chấp hành án tù thì gia đình gặp khó khăn đặc biệt. Bên cạnh đó, trong giai đoạn điều tra các bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 30/7/2024 đến ngày 05/8/2024) cũng có tính răn đe đối với các bị cáo và sau khi được xem xét cho tại ngoại tại địa phương thì không có vi phạm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần khoan hồng về phần hình phạt đối với các bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, để các bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị T có hành vi “Đánh bạc” nhằm mục đích thu lợi. Do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo Nguyễn Văn B là người khuyết tật, hưởng chế độ chính sách, bị cáo Nguyễn Thị Bé D nuôi con nhỏ, các bị cáo đều không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + Số tiền 11.544.000 đồng (gồm 9.317.000 đồng tiền đánh bạc và 2.227.000 đồng tiền bán vé số của bị cáo T); xét 9.317.000 đồng là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 2.227.000 đồng không liên quan tới việc phạm tội nhưng để đảm bảo thi hành án cần tiếp tục tạm giữ.
  • Đối với 01 con dấu mộc màu xanh có chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”; 01 cây viết màu xanh; Xét, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 cuốn sổ tay có bìa màu hồng và các tờ vé số, xét thấy cần tiếp tục quản lý tài liệu trên trong hồ sơ vụ án là phù hợp.
  • Đối với các tài sản khác không liên quan đến tội phạm, quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Đối với Nguyễn Thị T (sinh năm: 1964), tham gia đánh bạc dưới hình thức lô, đề với số tiền 660.000 đồng. Tuy nhiên, qua xác minh xác định T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã xử phạt hành chính 350.000 đồng đối với T tại Quyết định xử phạt số 0043828 ngày 12/10/2024 là phù hợp.

Đối với các đối tượng tham gia đánh bạc bằng hình thức lô đề tại quầy vé số Như Ý trong ngày 30/7/2024, qua điều tra hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên không đủ căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D, đều phạm tội: “Đánh bạc”.
    1. Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
      • - Xử phạt: Nguyễn Thị T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 26/11/2024).
      • Giao Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
      • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
      • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
      • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
    2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
      • - Xử phạt: Nguyễn Văn B 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 26/11/2024).
      • Giao Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
      • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
      • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    3. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
      • - Xử phạt: Nguyễn Thị Bé D 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 26/11/2024).
      • Giao Nguyễn Thị Bé D cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
      • Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
      • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dấu mộc màu xanh có chữ “VÉ SỐ NHƯ Ý”; 01 cây viết màu xanh
    • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.317.000 đồng theo biên lai 0003912 ngày 04/11/2024 của Chi cục hành án dân sự thị xã L. Đối với số tiền còn lại 2.227.000 đồng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L với Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.
  3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Bé D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đối với Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Nhà tạm giữ CA thị xã La Gi;
  • - Cơ quan điều tra CA thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 153/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Th và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger