Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 153/2024/HSST

Ngày: 24/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.
  • - Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Long
  • 2. Bà Trương Thị Thái
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐ - ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lưu Minh Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 13/8/2007 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm C, thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Lưu Viết L (sinh năm: 1985); Họ tên mẹ: Đinh Thị N (Sinh năm: 1986), Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)
  2. Họ và tên: Nguyễn Hữu L1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/12/2006 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Đội 4, xả T, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Hữu X (sinh năm: 1974); Họ tên mẹ: Vũ Thị C (Sinh năm: 1974), Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa)
  3. Họ và tên: Vũ Quang T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/4/2007 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Vũ Ngọc H (sinh năm: 1974); Họ tên mẹ: Vũ Thị T1 (Sinh năm: 1981), Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lưu Minh Đ (bố đẻ): Ông Lưu Viết L; Sinh năm: 1985; Địa chỉ: Xóm C, thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hữu L1 (bố đẻ): Ông Nguyễn Hữu X; Sinh năm: 1974; Địa chỉ: Đ, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Vũ Quang T (bố đẻ): Ông Vũ Ngọc H; Sinh năm: 1974; Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Lưu Minh Đ và bị cáo Nguyễn Hữu L1 – Bà Nguyễn Thị L2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Quang T – Bà Đinh Thị Phương M – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Do mâu thuẫn cá nhân trên mạng xã hội từ trước giữa Nguyễn Hữu L1 và anh Lê Quốc T2 (Sinh năm 2007; HKTT: thôn S, xã T, huyện T, Hà Nội) nên L1 đã rủ Lưu Minh Đ đi tìm anh T2 để đánh. Sáng ngày 05/12/2023, L1 và Đ cất giấu 02 gậy rút ba khúc bằng kim loại khi bật ra dài khoảng 60 đến 80 cm và 01 con dao kim loại màu trắng đầu dao vuông, bản dao khoảng 2-3 cm, dài khoảng 50 cm, chuôi gỗ màu đen vào cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ mang BKS 29Y1-8433 rồi đi học.

Khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi tan học, Đ điều khiển xe mô tô chở L1 ngồi sau đi về. Khi đến cổng trường Trung học cơ sở T6, L1 và Đ thấy anh T2 đang điều khiển xe mô tô chở phía sau là chị Hoàng Thị Huyền T3 (Sinh năm 2007; HKTT: Cầu Bươu, xã T, huyện T, Hà Nội) đi ngược chiều cùng với Vũ Quang T và các bạn là anh Phạm Ngọc Trung H1 (Sinh năm 2007; HKTT: xã T, T, Hà Nội), anh Trần Quang T4 (Sinh năm 2007; HKTT: Tổ 2, B, phường H, H, Hà Nội) và anh Nguyễn Gia Minh H2 (Sinh năm 2007; HKTT: phường K, quận T, Hà Nội). Đ dừng xe, mở cốp xe lấy 02 gậy ba khúc mang theo từ trước. Đ cầm 01 gậy ba khúc và đưa L1 cầm 01 gậy ba khúc, ngay sau đó Đ điều khiển xe mô tô chở L1 đuổi theo anh T2 và các bạn của anh T2 để đánh. Đ điều khiển xe đuổi theo nhóm của anh T2 với tốc độ khoảng 60 km/h, vừa đi vừa bấm còi xe liên tục gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự và an toàn giao thông.

Thấy L1, Đ cầm theo gậy ba khúc đuổi theo, anh T2 và các bạn sợ bị đánh nên đã điều khiển xe bỏ chạy. Khi đến đoạn cuối ngõ C T, xã T, huyện T, Hà Nội, Đ điều khiển xe vượt lên xe của anh T2, L1 cầm gậy ba khúc đánh vào tay trái của anh T2 khiến xe máy của anh T2 bị đổ. Sau đó, Đ dừng xe lại, L1 và Đ xuống xe rồi dùng gậy ba khúc đánh liên tiếp vào người, vào chân, tay của anh T2. Chị T3 can ngăn thì bị L1, Đ dùng gậy ba khúc đánh trúng 02 cái vào đầu. Vũ Quang T thấy anh T2, chị T3 bị đánh nên dừng xe lại, lấy từ ba lô đang đeo trên người 01 gậy ba khúc bằng kim loại khi bật ra dài khoảng 60 cm và quay lại chỗ anh T2, chị T3 đang bị đánh. T cầm gậy đánh nhiều phát vào người của L1 trong đó 01 phát trúng vào lưng của L1, L1 cũng cầm gậy ba khúc đánh vào tay của T. Quá trình đánh nhau, anh T2 giằng được gậy ba khúc của Đ và đánh vào tay của Đ. Đ tiếp tục lấy 01 con dao từ trong cốp xe ra, cầm dao vụt từ trên xuống, phần sống dao chém vào đùi bên trái của anh T2. Sau đó, Đ thấy T đang đánh L1 nên Đ cầm dao đe dọa và đuổi đánh T thì T bỏ chạy. Vì có nhiều người đến can ngăn nên Đ cất dao và gậy ba khúc trong cốp xe rồi chở L1 đi về nhà L1. L1 đưa gậy ba khúc cho Đ cất vào cốp xe, Đ điều khiển xe đi ra khu vực bờ sông gần đình Thượng P vứt 02 gậy ba khúc và 01 con dao rồi đi về. Hậu quả: anh T2 và chị T3 bị thương phải đi khám tại Bệnh viện 103.

Tại hồ sơ Bệnh án của anh Lê Quốc T2 tại Bệnh viện 103 thể hiện thương tích của Lê Quốc T2 như sau: Vết thương phần mềm vùng 1/3 trên mặt ngoài đùi trái và mặt mu đốt 3 ngón IV tay trái do bị chém. Ra viện ngày 11/12/2023, tình trạng: Đỡ, giảm. Kết quả khám bệnh của chị Hoàng Thị Huyền T3 tại Bệnh viện 103 thể hiện: Bệnh nhân sau tai nạn tỉnh, vào B15 cấp cứu. Tỉnh, GCS 15 điểm, đồng tử 02 bên đều 2,5 ly, PXAS dương tính. Vùng đỉnh sưng nề, không có vết rách da hay xây sát da, các cơ quan khác sơ bộ chưa thấy các dấu hiệu bất thường. Hình ảnh chụp CT sọ não hiện tại không thấy dấu hiệu bất thường. Chẩn đoán chấn thương vùng đầu do bị đánh.

Ngày 27/12/2023, Ủy ban nhân dân xã T có văn bản số 540/UBND với nội dung: Vụ việc các đối tượng điều khiển xe mô tô cầm theo hung khí trên tay, đuổi đánh nhau trên quãng đường dài, có tính chất côn đồ, manh động tại khu vực công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, uy tín của địa phương, tạo tâm lý hoang mang cho người dân. UBND xã T đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành điều tra, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng và đề nghị xử lý nghiêm trước pháp luật, góp phần làm ổn định trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và làm gương răn đe những đối tượng khác.

Ngay khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Công an xã T đã tiến hành rà soát và thu giữ 01 file video ghi nhận hình ảnh vụ việc từ camera của nhà anh Nguyễn Văn H3 (Sinh năm 1999; HKTT: ngõ C, Đội 9, xã T, huyện T, Hà Nội). Cơ quan điều tra Công an huyện T cũng rà soát và thu giữ 01 file video ghi nhận hình ảnh vụ việc từ camera của trường Trung học cơ sở T6. Quá trình rà soát không thu giữ được hung khí các đối tượng đã sử dụng để đánh nhau, gây rối trật tự công cộng. Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với anh Lê Quốc T2, chị Hoàng Thị Huyền T3, Lưu Minh Đ, Nguyễn Hữu L1, Vũ Quang T. Tuy nhiên, anh T2, chị T3, Đ, L1, T đều có đơn từ chối giám định thương tích và không chấp hành quyết định dẫn giải đi giám định thương tích, đề nghị không xử lí hành vi cố ý gây thương tích của các đối tượng khác.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can Nguyễn Hữu L1, Lưu Minh Đ, Vũ Quang T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Airblade màu đỏ BKS 29Y1-8433 Đ đã sử dụng để chở L1 đuổi đánh anh Lê Quốc T2, quá trình điều tra Đ khai đã mượn chiếc xe trên của một người bạn xã hội (không rõ lai lịch, địa chỉ) để đi học và sau khi xảy ra vụ đánh nhau Đ đã trả lại chiếc xe nên Cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc xe. Tra cứu chủ sở hữu phương tiện BKS 29Y1-8433 là anh Nguyễn Tuấn N1 (Sinh năm 1973; HKTT: số C ngõ B N, phường N, quận L, Hà Nội) đăng ký cho chiếc xe Wave RS màu đỏ đen bạc, số máy HC09E6487476; số khung: RLHHC090161487491. Tại Cơ điều quan tra, anh Nguyễn Tuấn N1 khai không biết chiếc xe BKS 29Y1-8433 là của ai và chưa đăng ký chiếc xe nào mang BKS 29Y1-8433. Cơ quan điều tra đã tách tài liệu liên quan đến chiếc xe để xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKSTT ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc quản lý giám sát con em mình, không có ý kiến gì với lời khai của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng cho các bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục việc học.

Những người bào chữa cho các bị cáo đều nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố tại bản cáo trạng.

Người bào chữa cho bị cáo Đ và bị cáo L1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo lần đầu phạm tội; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhận thức pháp luật còn hạn chế, non nớt trong suy nghĩ và hành động, muốn thể hiện bản thân mà giảm nhẹ hình phạt; Các bị cáo phạm tội một phần lỗi cũng do việc thiếu trách nhiệm trong quản lý của gia đình, nhà trường và xã hội...

Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo T không có ý định đánh nhau từ trước, chỉ vì bảo vệ bạn bè và vì có sẵn gậy trong cặp nên đã nhất thời bột phát thực hiện hành vi; Bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, chưa tiền án tiền sự, tuổi đang còn nhỏ, đang đi học, nhận thức pháp luật hạn chế, có nơi cư trú rõ ràng... để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, đề cao tính giáo dục và tạo cơ hội cho bị cáo...

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với các bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101; Bộ luật Hình sự 2015

Xử phạt các bị cáo: Lưu Minh Đ mức án từ 26 đến 28 tháng tù; Nguyễn Hữu L1 mức án từ 26 đến 28 tháng tù; Vũ Quang T mức án từ 24 đến 26 tháng tù cùng về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách của án treo theo quy định pháp luật.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quả pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo...

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 11 giờ ngày 05/12/2023, Lưu Minh Đ điều khiển xe mô tô Honda Air Blade mang BKS 29Y1-8433 chở Nguyễn Hữu L1 ngồi sau cầm gậy ba khúc dài khoảng 60-80 cm đuổi đánh anh Lê Quốc T2 khi anh T2 cùng các bạn tan học đang trên đường về nhà từ đoạn cổng trường Trung học cơ sở T6. Khi đến cuối ngõ C đường T, xe của anh T2 bị đổ, Đ và L1 đã dùng gậy ba khúc vụt vào người, vào tay, chân của anh T2. L1, Đ cầm gậy ba khúc đánh 02 phát vào đầu chị Hoàng Thị Huyền T3 (bạn anh T2). Đ dùng 01 con dao dài khoảng 50 cm chém phần sống dao vào đùi của anh T2. Vũ Quang T dùng gậy ba khúc đánh vào lưng L1.

Hành vi của L1, Đ cầm gậy ba khúc điều khiển xe mô tô với tốc độ cao, bấm còi rượt đuổi nhóm của anh Lê Quốc T2 trên đoạn đường dài sau đó L1, Đ, T đã dùng gậy ba khúc và dao đánh nhau tại ngõ C T là khu vực đông dân cư, nhiều người qua lại đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: “Gây rối trật tự công cộng” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, uy tín của địa phương, xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân sinh sống trong địa bàn. Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng hung khí đuổi đánh nhau trên quãng đường dài, có tính chất côn đồ, manh động tại khu vực công cộng, đông dân cư sinh sống và làm việc. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Bị cáo Lưu Minh Đ và bị cáo Nguyễn Hữu L1 là những người có vai trò tích cực, khởi xướng việc đánh chém nhau, chuẩn bị sẵn hung khí và điều khiển xe máy với tốc độ cao, cầm theo hung khí truy đổi anh T2, chị T3 trên đoạn đường dài vì vậy phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Vũ Quang T.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; Gia đình bị cáo Lưu Minh Đ và bị cáo Nguyễn Hữu L1 là gia đình có công với cách mạng, có người trong gia đình là Liệt sỹ được tổ quốc ghi công và trao tặng nhiều huân chương kháng chiến cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xét thấy các bị cáo nhân thân chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Khi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi, là học sinh nên nhận thức pháp luật còn kém, suy nghĩ chưa trưởng thành nên đã dẫn đến hậu quả không mong muốn.

Vì vậy, sau khi xem xét tính chất của vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự để cải tạo dưới sự giám sát của cha mẹ và chính quyền địa phương, có cơ hội tiếp tục học tập, tu dưỡng, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Người đại diện theo pháp luật, người bào chữa của các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Từ các nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Lưu Minh Đ, Nguyễn Hữu L1, Vũ Quang T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”
  2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101; Bộ luật Hình sự 2015;

    Áp dụng: Các Điều 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;

    Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo

  3. Xử phạt:

    Bị cáo Lưu Minh Đ 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Bị cáo Nguyễn Hữu L1 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Bị cáo Vũ Quang T 02 (hai) năm tù nhưng có hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Về án phí và quyền kháng cáo:

    Các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người đại diện theo pháp luật và những người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội ;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - Các bị Cáo; Người bào chữa...
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HSST ngày 24/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội về hình sự - gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 153/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Đ, L1, T có hành vi gây rối trật tự công cộng. Khi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger