|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 153/2024/HS-ST Ngày 08 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.
- Thẩm phán: Bà Tòng Thị Hiền.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Sơn, ông Lê Bắc Hải, bà Lèo Thị Chan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn B, tên gọi khác: Không, sinh ngày 01/01/2003 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh Mun; Tôn giáo: Không; Giới Tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông Lò Văn Q, sinh năm 1987 và bà Lò Thị Q1, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023 đến nay, có mặt.
- Người bị hại: Anh Lò Văn S, sinh năm 1980 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
- + Chị Lò Thị X, sinh năm 1981, nơi cư trú: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- + Cháu Lò Văn C, sinh năm 2003, cháu Lò Văn H, sinh năm 2007; nơi cư trú: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Quốc T - Đoàn luật sư tỉnh S. Có mặt.
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị Q1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người làm chứng: Lò Văn S1, Lò Văn Đ, Lò Thị T1, Lò Thị Q1, Lò Văn B, đều cư trú tại: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người phiên dịch: Lò Văn B, sinh năm 1988; nghề nghiệp: Công an viên; địa chỉ: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau.
Ngày 20/11/2023, Lò Văn B đi dự đám cưới của gia đình anh Lò Văn P, trú tại: bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, B gọi điện thoại cho Lò Thị T1 (em gái ruột của B) nhờ T1 bảo với Lò Văn Đ (em ruột B) lên đám cưới uống rượu, T1 bảo với B là anh Đ đã ngủ không lên được, rồi tắt máy. B gọi điện cho T1 nhiều lần nhưng T1 không nghe mà tắt máy, B bực tức nên quay về nhà thấy T1 nằm ở giường, B quát “gọi sao không nghe?”, T1 không trả lời. B đi đến gần dùng tay phải tát 03 phát vào mặt của T1, bà Lò Thị Q1 (mẹ đẻ B) đang nằm cạnh, thấy B đánh T1 nên van xin thì bị B bóp vào cổ bà Q1. Lúc này, Đ tỉnh dậy nhìn thấy nên vào can ngăn, B buông tay khỏi cổ bà Q1 và sử dụng tay trái đấm 01 phát vào mặt phải của Đ, Đ bỏ chạy đến gọi anh Lò Văn S, sinh năm 1980 (ở cùng bản) đang dự đám cưới nhờ anh S xuống can ngăn B, anh S cùng vợ là Lò Thị X đi xuống nhà B, thấy B đang ngồi hút thuốc lào ở bếp, trước đó anh Lò Văn S1, sinh năm 1976 (hàng xóm), biết B say rượu đánh người nên đã đến nói với B “cháu ầm ĩ làm gì, mày làm thế mày không thấy xấu hổ à?”, B đứng dậy cầm 01 thanh tre khô dài 55,5cm, tay phải tát 01 phát vào mặt anh S1, sau đó sử dụng thanh tre đập 01 nhát trúng vào cánh tay trái của anh S1 làm anh S1 ngã xuống sàn nhà, bà Q1 đỡ anh S1 đứng dậy rồi đưa về. B cầm theo thanh tre đuổi theo để đánh thì gặp vợ chồng anh S nên anh S khuyên bảo B say thì về nhà ngủ, rồi cùng B vào ngồi ở bếp, còn chị X ngồi ở giường, anh S mắng Bun “Mày đi chết ở đâu thì đi đi, tao không quan tâm”, nên B rút lấy khúc củi bằng gỗ dài 81cm từ trong bếp đang cháy một đầu, đứng dậy cầm khúc củi bằng hai tay vụt 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vào vùng thái dương chẩm trái của anh S, sau đó vụt tiếp 01 phát theo chiều ngược lại, trúng vào miệng của anh S, làm cho anh S ngã xuống sàn nhà, thấy chồng bị đánh chị X lao vào căn ngăn. Anh S được gia đình đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh S cấp cứu, đến ngày 23/11/2023, do thương tích nặng nên đã tử vong. Quần chúng nhân dân đã báo với cơ quan chức năng giải quyết. Ngày 21/11/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn B.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ án, xác định:
2
Hiện trường là nhà ở của bị cáo Lò Văn B tại bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Nhà sàn làm bằng gỗ có 03 gian, 02 trái, mái lợp fiproximang, diện tích trong nhà rộng 55,5m² được chia làm ba khu (khu bếp được đặt ở gian đầu tiên, khu giường ngủ và khu sinh hoạt chung). Hiện trường gây án là khu vực bếp củi được đặt ở bên trái cửa ra vào từ phía hiên có cầu thang đi lên.
Tại hiện trường Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phát hiện 01 thanh tre dài 55,5 cm, đường kính 03cm (một đầu bị cháy đen); nhiều vết dịch mầu nâu bám dính trên sàn nhà (nghi là máu của người bị hại); ông Lò Văn B, sinh năm 1988 (hàng xóm của bị can) khi trình báo với Công an xã P về việc Lò Văn B đánh ông S, đã giao nộp 01 đoạn củi gỗ có kích thước dài 81cm, đường kính 06cm (một đầu bị cháy đen), xác định B đã sử dụng để đánh ông S.
Kết quả khám nghiệm tử thi, xác định: Tử thi là Lò Văn S, sinh năm 1980, trú tại: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Tử thi đang trong thời kỳ khô lạnh, co cứng. Tại thái dương - chẩm trái có 01 (một) vết thương bầm tím, tụ máu trầy xước da có kích thước 16x13cm; lỗ tai có máu chảy từ trong ra ngoài; quanh mắt trái bị bầm tím; môi trên có vết thương trầy xước da, có kích thước 1,5x1,7cm. Mổ vết thương ở chẩm trái phát hiện xương hộp sọ bị vỡ, lún có kích thước 18x14cm.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành giám định nguyên nhân chết của Lò Văn S, giám định ADN trên thanh gỗ thu giữ xác định là hung khí gây án.
Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 102/KLGĐTT-TTPY ngày 29/11/2023, Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận nguyên nhân chết của Lò Văn S là do: “Chấn thương sọ não, dập vỡ phức tạp xương thái dương - đỉnh - chẩm trái".
Tại Kết luận giám định ADN số 8885/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của V - Bộ C1, kết luận: “Trên thanh củi gỗ có ADN của Lò Văn B và ADN của Lò Văn S".
Ngày 08/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra. Kết quả bị can Lò Văn B đã thực hiện lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người làm chứng.
Đối với hành vi đánh anh Lò Văn S1, Lò Văn Đ, Lò Thị T1, Lò Thị Q1 của Lò Văn B nhưng không gây thương tích. Do đó không xử lý đối với hành vi này.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại Lò Văn S yêu cầu bị cáo Lò Văn B bồi thường số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Hiện gia đình bị cáo Lò Văn B đã bồi thường 26.000.000 đồng.
Do có hành vi trên, tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKS-P2 ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lò Văn B về tội giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
3
* Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Lò Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã quy kết, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị hại Lò Văn S gồm: chị Lò Thị X, cháu Lò Văn C, cháu Lò Văn H yêu cầu bị cáo Lò Văn B bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng như đã thoả thuận. Hiện gia đình bị cáo đã bồi thường 26.000.000 đồng, số tiền còn lại 74.000.000 đồng yêu cầu bị cáo Lò Văn B tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Lò Văn B và đại diện gia đình bị cáo nhất trí với yêu cầu bồi thường dân sự của đại diện gia đình bị hại.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lò Thị Q1 (mẹ đẻ bị cáo) đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 26.000.000 đồng và thỏa thuận với gia đình bị hại tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 74.000.000 đồng.
- - Những người làm chứng giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai tại phiên tòa và không khai báo bổ sung gì thêm.
- - Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lò Văn B về tội danh và Điều luật áp dụng như cáo trạng đã quy kết và đề nghị: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội Giết người. Xử phạt bị cáo Lò Văn B tù chung thân.
- + Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vật chứng thu giữ là vật không còn giá trị sử dụng, chủ sở hữu không yêu cầu trả lại, nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- + Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bị cáo Lò Văn B bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng. Hiện gia đình bị cáo Lò Văn B đã bồi thường 26.000.000 đồng, số tiền còn lại 74.000.000 đồng yêu cầu bị cáo Lò Văn B tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại, đề nghị HĐXX chấp nhận.
- + Về án phí: Bị cáo Lò Văn B là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
- - Quan điểm của của Luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh, Điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, chưa tiền án tiền sự, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa không biết chữ nên không am hiểu pháp luật, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo đã uống rượu say, không làm chủ được hành vi mới dẫn đến sự việc sảy ra, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại và phía gia đình bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mở lượng khoan hồng xử
4
phạt bị cáo mức hình phạt 20 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo, đại diện gia đình bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị hại.
- - Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Luật sư và không có ý kiến bổ sung.
- - Tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên về mức hình phạt: Kiểm sát viên đã căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để đề nghị mức hình phạt phù hợp, đề nghị HĐXX xem xét theo quy định.
- - Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Kiểm sát viên không tranh luận, đối đáp gì thêm.
- - Lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện M, Công an tỉnh S; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn B đều khai nhận: Tối ngày 20/11/2023, tại bản Ta Vắt, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La, bị cáo Lò Văn B sau khi uống rượu say đã gọi điện gây sự, sau đó về nhà đánh em gái là Lò Thị T1, em trai là Lò Văn Đ và mẹ đẻ là Lò Thị Q1, khi được anh Lò Văn S (là cậu ruột của bị cáo) và mọi người căn ngăn, bị cáo đã sử dụng 01 thanh củi gỗ dài 81cm, đường kính 06 cm đánh 02 nhát vào đầu của anh Lò Văn S, gây chấn thương sọ não, vỡ xương thái dương đỉnh - chẩm phức tạp. Hậu quả làm anh Lò Văn S tử vong.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của chị Lò Thị X đại diện hợp pháp cho bị hại và những người làm chứng cùng các căn cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các căn cứ sau:
Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 10 giờ ngày 21/11/2023 tại bản Ta Vắt, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Xác định nhà sàn làm bằng gỗ có 03 gian, 02 trái, mái lợp fiproximang, diện tích trong nhà rộng 55,5m² được chia làm ba khu (khu bếp được đặt ở gian đầu tiên, khu giường ngủ và khu sinh hoạt chung).
5
Hiện trường gây án là khu vực bếp củi được đặt ở bên trái cửa ra vào từ phía hiên có cầu thang đi lên. Tại hiện trường Cơ quan Cảnh sát điều tra đã phát hiện 01 thanh tre dài 55,5cm, đường kính 03cm (một đầu bị cháy đen); nhiều vết dịch mầu nâu bám dính trên sàn nhà (nghi là máu của người bị hại); ông Lò Văn B, sinh năm 1988 (hàng xóm của Lò Văn B) khi trình báo với Công an xã P về việc Lò Văn B đánh anh S, đã giao nộp 01 đoạn củi gỗ có kích thước dài 81cm, đường kính 06cm (một đầu bị cháy đen), xác định Lò Văn B đã sử dụng để đánh anh S.
Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 08/3/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra. Kết quả Lò Văn B đã thực hiện lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người làm chứng.
Kết quả khám nghiệm tử thi, xác định: Tử thi là Lò Văn S, sinh năm 1980, trú tại: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Tử thi đang trong thời kỳ khô lạnh, co cứng.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 102/KLGĐTT-TTPY ngày 29/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh S, kết luận: “Nguyên nhân chết của Lò Văn S là do: Chấn thương sọ não, dập vỡ phức tạp xương thái dương - đỉnh - chẩm trái”.
Kết luận giám định ADN số 8885/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của V - Bộ C1, kết luận: “Trên thanh củi gỗ có ADN của Lò Văn B và ADN của Lò Văn S".
Từ các căn cứ như đã nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Văn B phạm tội Giết người, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Nhân thân: Bị cáo là nhân dân lao động; chưa có tiền án, tiền sự.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc làm của mình; bị cáo đã tác động gia đình bị cáo tích cực bồi thường cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn B là đặc biệt nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, chỉ vì không làm chủ được bản thân sau khi đã uống rượu, bị cáo Lò Văn B đã có hành vi sử dụng 01 thanh củi gỗ dài 81cm, đường kính 06 cm đánh 02 nhát vào đầu anh Lò Văn S,
6
gây chấn thương sọ não, vỡ xương thái dương đỉnh - chẩm phức tạp. Hậu quả, anh Lò Văn S đã tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện thái độ hung hăng, côn đồ, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng con người và những quy tắc ứng xử trong cuộc sống, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức súc trong dư luận quần chúng nhân dân.
Ngoài hành vi giết bị hại Lò Văn S tối ngày 20/11/2023, bị cáo Lò Văn B còn thực hiện hành vi đánh anh Lò Văn S1, anh Lò Văn Đ, chị Lò Thị T1 và bà Lò Thị Q1 nhưng không ai bị gây thương tích. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý bị cáo đối với hành vi này, chỉ coi đây là tình tiết trong vụ án. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét cần áp dụng mức hình phạt tù không thời hạn mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung và phù hợp với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện gia đình bị hại Lò Văn S yêu cầu bị cáo Lò Văn B bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Hiện gia đình bị cáo Lò Văn B đã thay bị cáo bồi thường 26.000.000 đồng, số tiền còn lại 74.000.000 đồng (bảy mươi tư triệu đồng) yêu cầu bị cáo Lò Văn B tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại. Xét thấy, việc thoả thuận bồi thường dân sự giữa bị cáo, đại diện gia đình bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị hại là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Tại phiên toà, bà Lò Thị Q1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 26.000.000 đồng mà gia đình đã bồi thường thay cho bị cáo, cần chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 01 thanh củi dài 81 cm và 01 thanh tre dài 55,5 cm đã được niêm phong theo quy định, xác định bị cáo sử dụng để gây án, cần tịch thu tiêu huỷ.
[7] Về án phí:
Bị cáo Lò Văn B là dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội Giết người.
Xử phạt bị cáo Lò Văn B tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584,
7
585, 586, 590, 591 Bộ luật Dân sự:
Chấp nhận việc bị cáo, đại diện gia đình bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị hại tự nguyện thoả thuận bồi thường tổng số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); đại diện gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng). Bị cáo Lò Văn B phải có trách nhiệm bồi thường tiếp cho gia đình bị hại số tiền là 74.000.000 đồng (Bẩy mươi tư triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Chấp nhận việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị Q1 (mẹ đẻ bị cáo) đã tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo số tiền 26.000.000 đồng (Hai mươi sáu triệu đồng) và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói vật chứng nguyên niêm phong (bên trong gói niêm phong gồm: 01 thanh củi gỗ gài 81cm, một đầu bị đốt đường kính 6,5cm, đầu còn lại 05cm)+ 01 (Một) gói vật chứng nguyên niêm phong (bên trong gói niêm phong gồm: 01 thanh tre dài 55,5cm, một đầu bị than hóa rộng 03cm, một đầu bằng rộng 2,5cm).
4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho bị cáo Lò Văn B theo quy định.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
8
7, 7ª, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuấn Minh |
9
Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về giết người
- Số bản án: 153/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Bun phạm tội Giết người
