Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Tuấn

Ông Phạm Hồng Quyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Mai Thuỳ Linh – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu xét xử trực tuyến Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và điểm cầu xét xử trực tuyến Trại tam giam số 1 Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần D, sinh năm 1967, tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: Số A Tổ A, phường T, quận Đ, Hà Nội; Nơi cư trú: Số F ngõ H T, phường M, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần T (đã chết) và bà Chu Thị N; vợ là Trần Thị D1 có 02 con; Theo danh chỉ bản số 217 do Công an quận H lập ngày 23/04/2024 và lý lịch địa phương cung cấp: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 24/04/2024, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số E ngõ E B, phường C, quận H, Hà Nội (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, tại trước số B Quán S - phường H - quận H - Hà Nội, tố công tác Công an phường H phát hiện Trần D và Nguyễn Tuấn A có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Trần D tự nguyện giao nộp 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilông kích thước 4 x 8 cm và 01 túi nilông kích thước 3 x 6 cm đều chứa thảo mộc khô. D khai nhận đây là ma túy T1 mang đi bán cho Nguyễn Tuấn A nhưng chưa kịp bán thì bị bắt. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa Trần D, Tuấn A về trụ sở giải quyết.

* Thu giữ của Trần D:

  • + 01 điện thoại Redmi màu xanh, số sim 0375950464, IMEI: 860957055516603;
  • + 01 xe máy nhãn hiện Honda Future, BKS 29U6 – 8732, số máy 0070380, số khung 070319.

* Thu giữ của Nguyễn Tuấn A:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1s màu vàng, số IMEI:862651038473838, lắp sim số 0358237237.

Kết quả xét nghiệm ma túy của Trần D: âm tính

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở hiện tại của Trần D, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 túi đeo chéo màu đen, bên trong có: 1.900.000 đồng;

- 01 túi nilông kích thước khoảng 15 x 10 cm bên trong có: 01 túi nilông kích thước 8 x 5 cm chứa thảo mộc khô, 01 túi nilông kích thước 6 x 3 cm chứa thảo mộc khô

- 01 cần điện tử màu bạc, nhãn hiệu Digital Pocket Scale, dính thảo mộc khô.

Theo bản Kết luận giám định số 2869/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: 01 gói giấy màu trắng, bên trong có: Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilông đều có ma túy loại MDMB - 4en - Pinaca, tổng khối lượng 9,362 gam.

Theo bản Kết luận giám định số 2873/KLGĐ-PC09 ngày 24/4/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận:

- Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilông (để trong 01 túi nilông) đều có ma túy loại MDMB - 4en - Pinaca, tổng khối lượng 9,525 gam.

- 01 cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại MDMB - 4en - Pinaca.

Tại Cơ quan điều tra, Trần D khai nhận: Ngày 11/4/2024, D mua của 01 người đàn ông sử dụng tài khoản facebook tên "Ông K" 500.000 đồng tiền ma túy Tobacco với mục đích để bán kiếm lời. Tài khoản facebook "Ông K" đã giao ma túy cho D thông qua người giao hàng tại trước số F T - quận H - Hà Nội. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/4/2024, tài khoản zalo tên "Anh A1" gọi điện cho D hỏi mua 300.000 đồng ma túy T1, D đồng ý và hẹn ngày 14/4/2024 sẽ giao ma túy, bao gồm thêm 50.000 đồng tiền phí vận chuyển. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, tài khoản zalo trên gọi điện và hẹn D giao ma túy tại số B Quán S - phường H - quận H - Hà Nội. D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Future màu xanh đen, BKS: 29U6 - 8732, cất giấu ma túy trong túi áo ngực bên trái rồi đi đến điểm hẹn. Tại đây, D gọi điện thoại cho tài khoản zalo tên "Anh A1" ra nhận ma túy, người đàn ông có mặt nhưng D chưa kịp giao ma túy thì bị Công an bắt giữ như đã nêu trên. Nếu bán trót lọt ma túy, D được hưởng lợi 100.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo Trần D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng.

Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần D từ 28 tháng đến 32 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2024. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong dán kín mép, tại các mép dán có hình dấu của Công an phường H và chữ ký của bị can Trần D, người liên quan Nguyễn Tuấn A, người chứng kiến Nguyễn Văn L, giám định viên Trương Trọng V, cán bộ Công an phường N, bên trong chứa ma túy MDMB - 4en - Pinaca có tổng khối lượng là 9,362 gam, PC09 trích mẫu giám định là 3,111 gam, còn lại 6,251 gam; theo Kết luận giám định số 2869/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định, biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 14/4/2024; 01 phong bì niêm phong dán kín các mép, có chữ ký của cán bộ điều tra Đỗ Thái G, giám định viên Vũ Việt C, người chứng kiến Âu Thị T2, Triệu Thị Minh H và hình dấu của Cơ quan điều tra; bên trong chứa ma túy MDMB - 4en - Pinaca có tổng khối lượng là 9,525 gam, PC09 trích mẫu giám định là 1,447 gam, còn lại 8,078 gam; theo Kết luận giám định số 2873/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định, biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 15/4/2024; 01 cân điện tử màu bạc, nhãn hiệu Digital Pocket Scale; 01 túi màu đen; 02 sim điện thoại số 0358.237.xxx và số 0375950464.

- Đề nghị sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Redmi màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1s màu vàng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future, BKS 29U6-8732.

- Đề nghị trả lại số tiền 1.900.000 đồng cho bị cáo Trần D.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bản tự khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Trần D đã thực hiện hành vi mang 9,362 gam ma túy loại thảo mộc MDMB – 4en – Pinaca nhằm bán trái phép cho Nguyễn Tuấn A thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại số B Quán S - phường H - quận H - Hà Nội.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội truy tố bị cáo Trần D về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá tình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Trần D có nhân thân tốt.

[6] Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, rèn luyện ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hình phạt chính và hình phạt bổ sung là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 phong bì niêm phong dán kín mép, tại các mép dán có hình dấu của Công an phường H và chữ ký của bị can Trần D, người liên quan Nguyễn Tuấn A, người chứng kiến Nguyễn Văn L, giám định viên Trương Trọng V, cán bộ Công an phường N, bên trong chứa ma túy MDMB - 4en - Pinaca có tổng khối lượng là 9,362 gam, PC09 trích mẫu giám định là 3,111 gam, còn lại 6,251 gam. Theo Kết luận giám định số 2869/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định, biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 14/4/2024;
  • + 01 phong bì niêm phong dán kín các mép, có chữ ký của cán bộ điều tra Đỗ Thái G, giám định viên Vũ Việt C, người chứng kiến Âu Thị T2, Triệu Thị Minh H và hình dấu của Cơ quan điều tra; bên trong chứa ma túy MDMB - 4en - Pinaca có tổng khối lượng là 9,525 gam, PC09 trích mẫu giám định là 1,447 gam, còn lại 8,078 gam. Theo Kết luận giám định số 2873/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định, biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 15/4/2024;
  • + 02 sim điện thoại số 0358.237.xxx và số 0375950464
  • + 01 (một) túi đeo chéo màu đen
  • + 01 cân điện tử màu bạc, nhãn hiệu Digital Pocket Scale

Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại Redmi màu xanh.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F1s màu vàng.
  • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future, BKS 29U6 – 8732.

Trả lại số tiền 1.900.000 đồng cho bị cáo Trần D không liên quan đến hành vi phạm tội.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng sử dụng tài khoản zalo tên "Anh A1" hỏi mua ma túy của D là Nguyễn Tuấn A (sinh năm 1989; HKTT: Số E ngõ E B - phường C - quận H - Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, Tuấn A khai: Ngày 13/4/2024, Tuấn A liên lạc với Trần D hỏi mua 300.000 đồng ma túy T1 và hẹn ngày 14/4/2024 giao nhận ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Trần D đến gặp Tuấn A tại số B Quán S - phường H - quận H - Hà Nội nhưng đang trao đổi giao dịch thì bị bắt. Tuấn A chưa giao tiền, chưa mua được ma túy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Fls màu vàng dùng để liên lạc hỏi mua ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy của Tuấn A: âm tính nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối tượng bán ma túy cho D sử dụng tài khoản facebook có tên "Ông K và đối tượng đã giao ma túy cho D, D đều không biết họ tên, tuổi, địa chi, sổ điện thoại; việc mua bán ma túy liên hệ qua mạng xã hội, nội dung đã bị xóa và việc giao nhận ma túy diễn ra trực tiếp. Cơ quan điều tra đã dẫn giải D đi chỉ vị trí mua ma túy nhưng không xác dịnh được đối tượng đã giao ma túy nên không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Future, BKS 29U6 - 8732 thu giữ của Trân D2, D2 khai đã mua chiếc xe trên của ông Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1963; trú tại: thôn T - xã N - huyện T - Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, ông T3 khai: Năm 2020, ông T3 đã bán chiếc xe máy trên cho D2 với giá 2.000.000 đồng, khi bán xe không viết giấy tờ mua bán. Kết quả tra cứu, chiếc xe máy trên không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật nên Cơ quan điều tra chuyển cơ quan Thi hành án dân sự để Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo Trần D bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần D 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2024.

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 phong bì niêm phong số 3340/KL-KTHS của V1 Bộ C2 được dán kín trên các mép có chữ ký của Giám định viên Đinh Thị T4 cán bộ, Cơ quan điều tra Phạm Sơn T5 và hình dấu đỏ của V1 - Bộ C2. Bên trong có chứa tang vật thu giữ của Trần D gồm: Thảo mộc khô bên trong 02 (hai) túi nilon, tổng khối lượng 9,362 gam đều có ma túy loại MDMB - 4en - PINACA (PC09 - Công an T lấy mẫu giám định 3,111gam, còn lại 6,251gam).Thảo mộc khô trong 02 (hai) túi nilon, tổng khối lượng 9,525 gam đều có ma túy loại MDMB - 4en - PINACA (PC09 - Công an T lấy mẫu giám định 1,447 gam, còn lại 8,078gam).01 (một) túi nilon chứa thảo mộc khô, khối lượng 6,251 gam. Hàm lượng, khối lượng chất ma túy loại MDMB - 4en - PINACA trong mẫu thảo mộc gửi giám định là 0,9% và 0,056gam (V1 - Bộ C2 lấy mẫu giám định 1,240gam, còn lại 5,011gam thảo mộc đều có ma túy loại đều có ma túy loại MDMB - 4en - PINACA). 01 (một) túi nilon chứa thảo mộc khô, khối lượng 8,078gam. Hàm lượng, khối lượng chất ma túy loại MDMB - 4en - PINACA trong mẫu thảo mộc gửi giám định là 0,8% và 0,064gam (V1 - Bộ C2 lấy mẫu giám định 1,475gam, còn lại 6,603gam). Các vỏ bao gói.
  • + 01 (một) phong bì niêm phong, trên các mép niêm phong có các chữ ký của cán bộ Đỗ Thái G, người chứng kiến Âu Thị T2, Triệu Thị Minh H, giám định viên Vũ Việt C1 và hình dấu tròn màu đỏ. Bên trong chứa: 01 (một) cân điện tử màu bạc có dính ma túy loại MDMB-4en-PINACA.
  • + 01 (một) túi đeo chéo màu đen.
  • + 02 Sim điện thoại đã cũ.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng, nhãn hiệu Redmi, màu xanh (theo biên bản kiểm tra điện thoại CAP Hàng Bông - Công an quận H ngày 14/4/2024 ghi nhãn hiệu Redmi, màu xanh, I: 860957055516603 máy cũ đã qua sử dụng) đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không đối chiếu được số imei bên trong.
  • + 01 (một) điện thoại di động nhã hiệu OPPO F1S màu vàng, (theo biên bản kiểm tra điện thoại CAP Hàng Bông - Công an quận H ngày 14/4/2024 ghi nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng, Imel: 862651038473838 máy cũ đã qua sử dụng) đã cũ. Tại thời điểm bàn giao máy không mở được để kiểm tra nên chất lượng, hiện trạng, nguồn gốc xuất xứ không rõ, không đối chiếu được số imei bên trong.
  • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda Future, số máy 0070380, số khung 070319 đã cũ, không rõ nguồn gốc xuất xứ cùng 01 biển kiểm soát 29U6-8732 đã cũ, chất lượng hiện trạng không rõ.
  • (Theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 15/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội).

- Trả lại cho bị cáo Trần D 1.900.000 đồng đã nộp tại Giấy nộp tiền mặt ngày 16/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Bị cáo Trần D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND TP Hà Nội (1 bản);
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm (3 bản);
  • - Công an quận Hoàn Kiếm (1 bản);
  • - Chi cục THA quận Hoàn Kiếm (1 bản);
  • - Sở Tư pháp (1 bản);
  • - Bị cáo (1 bản);
  • - Người liên quan (1 bản);
  • - Trại tạm giam (1 bản);
  • - Lưu hồ sơ - VP(2 bản).

(Thông báo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú).

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 153/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRần D - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger