Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 06-6-2024

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Chí Nguyện.

- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Cường, bà Dương Thị Lý Anh

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Hoàng Vĩnh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 06-6-2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;

Mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 26-02-2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 135/2024/QĐXX-ST ngày 22-5-2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lục Thị H, sinh năm 1971. HKTT: Xóm M, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Hiện ở: Số B, ngõ A, đường T, quận T, thành phố Đ, Đài Loan.

Đại diện ủy quyền nhận văn bản: Anh Phạm Tiến H1, CCCD số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 07-5-2021 và chị Phan Thị Thu N, CMND số [...] do Công an tỉnh Đ cấp ngày 14-8-2015. Đều có địa chỉ tại: Số C phố Đ, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Ông Trịnh Văn H2, sinh năm 1955. HKTT: Số A Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Hiện ở: Số D ngách E ngõ E, tổ B, đường H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội.

Bà Lục Thị H và ông Trịnh Văn H2 đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lục Thị H trình bày:

Bà Lục Thị H kết hôn với ông Trịnh Văn H2 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16-8-2018 tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà ông H2. Quá trình chung sống, năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống sinh hoạt. Vợ chồng thường cãi vã, mâu thuẫn căng thẳng; vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02-2020. Đến tháng 8-2020, bà H sang Đài Loan sinh sống và làm việc. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng sống xa cách đã lâu, mỗi người có cuộc sống riêng nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trịnh Văn H2.

Về con chung: Bà Lục Thị H xác định vợ chồng không có con chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Lục Thị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn là ông Trịnh Văn H2 trình bày: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội ngày 16-8-2018. Trước khi kết hôn, ông H2 và bà H đều đã từng kết hôn. Sau khi kết hôn, ông H2 và bà H chung sống tại nhà ông H2, có thời gian bà H ở với gia đình tại Thái Nguyên, có thời gian đi đâu ông H2 không biết. Từ khoảng năm 2021 đến nay vợ chồng đã không còn liên hệ với nhau nữa. Ông Trịnh Văn H2 xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với bà H và đề nghị Tòa án nhanh chóng giải quyết vụ án.

Về con chung: Ông Trịnh Văn H2 xác định vợ chồng không có con chung và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Trịnh Văn H2 xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bà Lục Thị H và ông Trịnh Văn H2 đều vắng mặt và đều có đơn xin giải quyết vắng mặt hợp lệ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có quan điểm:

Về tố tụng: Nguyên đơn là bà Lục Thị H là người có quốc tịch Việt Nam, hiện ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo thực hiện trước và tại phiên tòa. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn đã đảm bảo thủ tục theo quy định.

Về nội dung: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội ngày 16-8-2018 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ khoảng 2020-2021. Vợ chồng không quan tâm lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không tồn tại. Bà H xin ly hôn, ông H2 cũng nhất trí ly hôn. Do vậy, đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Lục Thị H là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lục Thị H và giải quyết cho bà H được ly hôn ông H2.

Về con chung: Các đương sự đều xác nhận không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại công khai tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng.

Bà Lục Thị H là công dân Việt Nam, hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Lục Thị H có đơn xin vắng mặt đề ngày 21-9-2023 có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Ông Trịnh Văn H2 có Đơn xin vắng mặt đề ngày 12-3-2024.

Căn cứ quy định tại các Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung.

[2.1]. Về tình cảm: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội ngày 16-8-2018 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà ông H2 tại Số D ngách E ngõ E, tổ H, quận C, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hiểu nhau, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Bà H đã sang Đài Loan sinh sống, làm việc từ năm 2020 đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H thực tế đã không còn tồn tại từ tháng 8-2020 thời điểm bà H sang Đài Loan sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân và không còn liên hệ gì từ năm 2021; đời sống chung vợ chồng thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông H2 cũng xác định vợ chồng không quan tâm đến nhau, bà H ở đâu ông cũng không biết và ông H2 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn với bà H. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà Lục Thị H với ông Trịnh Văn H2 là có căn cứ được chấp nhận.

Căn cứ quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lục Thị H và giải quyết cho bà Lục Thị H được ly hôn ông Trịnh Văn H2.

[2.2]. Về con chung: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H đều thống nhất xác định vợ chồng không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H đều thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản và đều không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét. Giành quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung hoặc nghĩa vụ chung về tài sản sau ly hôn cho các đương sự để được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác (nếu có).

[3]. Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thì bà Lục Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 464, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lục Thị H. Bà Lục Thị H được ly hôn ông Trịnh Văn H2; ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H đều thống nhất xác định vợ chồng không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Trịnh Văn H2 và bà Lục Thị H đều thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nghĩa vụ chung về tài sản và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Tòa án không xem xét. Giành quyền khởi kiện về việc phân chia tài sản chung hoặc nghĩa vụ chung về tài sản sau ly hôn cho các đương sự để được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác (nếu có).
  4. Về án phí: Bà Lục Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0022944 ngày 16-01-2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội. Ghi nhận việc bà Lục Thị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Ông Trịnh Văn H2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Bà Lục Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cục THADS TP. Hà Nội;
  • - UBND p. Đ, q. B, TP. Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS + VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Chí Nguyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 153/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình giữa chị LTH vàanh TVH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger