Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 153/2024/DS-PT

Ngày 04/9/2024

V/v “kiện đòi tiền”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé.

Các Thẩm phán:

  • Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo.
  • Ông Vũ Việt Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Lê Anh Pha - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc “K đòi tiền”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 236/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A đường T, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng, Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Đoàn Chí H1. Sinh năm 1983. Địa chỉ: Số B đường L, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng, Có mặt.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho ông Đoàn Chí H1: Bà Nguyễn Thị Kiều D – Văn phòng Luật sư Kiều Duyên thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ, Có mặt.
  • Người làm chứng: Ông Lại Phúc N; địa chỉ: H B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
  • Người kháng cáo: Ông Đoàn Chí H1 là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Kim H trình bày: Bà và ông Đoàn Chí H1 có mối quan hệ quen biết với nhau. Ông H1 thường xuyên mượn tiền bà rất nhiều lần. Tính đến ngày 22/5/2022, bà và ông H1 chốt lại số nợ bằng giấy mượn tiền là ông H1 còn nợ bà số tiền: 1.150.000.000 đồng. Sau nhiều lần đòi, ông H1 có trả bớt cho bà số tiền 300.000.000 đồng. Còn lại số tiền 850.000.000 đồng. Từ đó đến nay ông H1 không trả nợ cho bà nên bà yêu cầu buộc ông Đoàn Chí H1 trả cho bà số tiền nợ: 850.000.000 đồng. Bà không yêu cầu tính lãi.

- Bị đơn ông Đoàn Chí H1 trình bày: Ông H1 xác nhận có nợ tiền của bà Huỳnh Thị Kim H nhưng không phải số tiền như bà H khai. Ông xác nhận có mượn bà H 1.150.000.000 đồng nhưng ông đã trả nhiều lần cho bà H tổng số tiền 730.000.000 đồng. Chỉ còn nợ số tiền: 420.000.000 đồng. Nay hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn nên ông xin 05 tháng sẽ trả dứt điểm số tiền nợ nêu trên nhưng tại phiên lần thứ hai mở lại ngày 21/3/2024, ông Đoàn Chí H2 có đơn yêu cầu hoãn phiên toà để Luật sư ông tiếp cận hồ sơ để bảo vệ quyền lợi của mình và ông có đơn trình bày lại như sau: Bà Huỳnh Thị Kim H khởi kiện yêu cầu ông trả số tiền 850.000.000 đồng và tiền lãi 7.250.000 đồng. Ông không đồng ý vì những lý do như sau: Quá trình ông làm ăn nên có vay mượn nhiều lần tiền của bà Huỳnh Thị Kim H, cụ thể như sau:

  1. 100.000.0000 đồng ngày 6 tây tháng 01 năm 2022, ông phải trả lãi vào ngày 6 tây hàng tháng với lãi suất 10%/tháng. Tức là mỗi tháng ông trả 10.000.000 đồng đối với số tiền vay 100.000.000 đồng. Ông trả từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022 là 50.000.000 đồng tiền lãi.
  2. 100.000.000 đồng ngày 13 tây tháng 01 năm 2022, ông phải trả lãi vào ngày 13 tây hàng tháng với lãi suất 10%/tháng. Tức là mỗi tháng ông trả 10.000.000 đồng đối với số tiền vay 100.000.000 đồng. Ông trả từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022 là 50.000.000 đồng tiền lãi.
  3. 500.000.000 đồng ngày 21/2 tây năm 2022, ông phải trả lãi vào ngày 21 tây hàng tháng với lãi suất 10%/tháng.Tức là mỗi tháng ông trả 50.000.000 đồng đối với số tiền vay 500.000.000 đồng. Ông trả từ tháng 02/2022 đến tháng 05/2022 là 200.000.000 đồng tiền lãi.
  4. 200.000.000 đồng ngày 15/3 tây năm 2022, ông phải trả lãi vào ngày 15 tây hàng tháng với lãi suất 10%/tháng. Tức là mỗi tháng ông trả 20.000.000 đồng đối với số tiền vay 200.000.000 đồng. Ông trả từ tháng 03/2022 đến tháng 05/2022 là 60.000.000 đồng tiền lãi.
  5. 250.000.000 đồng ngày 25/5 tây năm 2022, ông phải trả lãi vào ngày 25 tây hàng tháng với lãi suất 10%/tháng. Tức là mỗi tháng ông trả 25.000.000 đồng đối với số tiền vay 250.000.000 đồng. Số tiền ông chưa trả lãi vì đã chốt nợ tổng. Đến tháng 5/2022 thì ông và bà Huỳnh Thị Kim H có chốt lại số tiền gốc theo đó vào ngày 22/5/2022, ông có viết giấy mượn tiền của bà Huỳnh Thị Kim H số tiền 1.150.000.000 đồng thể hiện “anh nợ út tổng cộng là: 1.150.000.000 đồng; gồm: 1) 100.000.0000 đồng ngày 6 tây: 2) 100.000.000 đồng ngày 13 tây: 3) 500.000.000 ngày 21/2 tây: 4) 200.000.000 đồng ngày 15/3 tây: 5) 250.000.000 đồng ngày 25/5 tây”, thời hạn vay không có, lãi suất vẫn tính là 10%/tháng, định kỳ trả tiền lãi theo tháng. Kỳ đầu tiên ông đã trả tiền

lãi cho bà Huỳnh Thị Kim H số tiền là 115.0000.000 đồng bằng phương thức tiền mặt. Các kỳ thanh thanh toán sau ông vẫn đều đặn chuyển tiền lãi vào tài khoản số 0110883642 tại Ngân hàng Đ do bà Huỳnh Thị Kim H là chủ tài khoản. Cụ thể như sau: Ngày 06/7/2022 chuyển tiền lãi: 50.000.000 đồng; Ngày 01/8/2022 chuyển tiền lãi: 65.000.000 đồng; Ngày 11/8/2022 chuyển tiền lãi: 50.000.000 đồng; Ngày 08/9/2022 chuyển tiền lãi: 65.000.000 đồng. Vậy, từ thời điểm hai bên chốt tổng số tiền gốc đến ngày 8/9/2022 ông H1 đã trả tổng số tiền lãi là 345.000.000 đồng. Ngày 21/9/2022, ông H1 đã trả tiền gốc cho bà Huỳnh Thị Kim H 500.000.000 đồng bằng phương thức chuyển khoản 300.000.000 đồng vào tài khoản số 0110883642 tại Ngân hàng Đ do bà Huỳnh Thị Kim H là chủ tài khoản và 200.000.000 đồng tiền mặt cùng ngày có xác nhận tin nhắn messenger của hai bên. Tính đến thời điểm hiện tại, ông đã trả cho bà H tổng số tiền sau: 1.229.000.000 đồng. Vì vậy, số tiền ông H1 trả cho bà H đã vượt quá số tiền mà bà H đã cho ông mượn. Tuy nhiên, ngày 11/10/2022, bà Huỳnh Thị Kim H báo cho ông biết số tiền ông còn nợ tiền gốc là 850.000.000 đồng. Ông H1 thấy số tiền này là hết sức vô lý và có tranh cãi bà H. Sau ngày đó, ông yêu cầu bà H phải xem lại thì ông mới tiếp tục trả tiền nhưng bà H cố ý kiếm chuyện và đến tận nhà ông hành hung hai vợ chồng ông. Vì vậy, ông đã có đơn tố cáo về hành vi cố gây thương tích và cho vay nặng lãi của bà H. Khi bà H cho ông H1 vay, lãi suất đã được ấn định với mức 10%/tháng tương đương với 120%/năm, mức lãi này còn tăng gấp 3,6 lần khi bà H tiến hành thu nợ từ ông. Nếu chỉ tính lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 20%/tháng (khoảng 1,67%/tháng) thì lẽ ra khoản tiền lãi ông phải trả chỉ là: 1.150.000.000 đồng x 1,67% x 1 tháng = 19.205.000 đồng. Như vậy bà H đã thu lợi bất chính từ khoản tiền lãi là: 729.000.000 đồng – 672.000.000 đồng = 57.000.000 đồng. Từ những nội dung mà ông đã trình bày, cũng như tài liệu, chứng cứ mà ông cung cấp đính kèm, ông thấy bà H đã có hành vi mang dấu hiệu hình sự. Vì vậy, tôi kính mong Hội đồng xét xử xem xét và khởi tố vụ án “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, qua đó khởi tố bà H về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Đồng thời thu hồi giúp tôi số tiền 57.000.000 đồng (Năm mươi bảy triệu đồng) mà tôi đã bị bà H chiếm đoạt thông qua việc thu lợi bất chính đối với phần lãi vay trái quy định của pháp luật được quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Với nội dung nói trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2024/DSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định: Căn cứ khoản 2 Điều 227; Các Điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 274, Điều 275, Điều 280, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim H đối với ông Đoàn Chí H1 về yêu cầu tính lãi.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H đối với bị đơn ông Đoàn Chí H1 về việc "Tranh chấp kiện đòi tiền".

Buộc ông Đoàn Chí H1 phải trả cho bà Huỳnh Thị Kim H số tiền 850.000.000 đồng (Tám trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Đoàn Chí H1 phải chịu số tiền 37.500.000 đồng (Ba mươi bảy triệu năm trăm ngàn đồng).

Hoàn trả lại cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.833.750 đồng theo biên lai thu số 0002237 ngày 24/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/5/2024, ông Đoàn Chí H1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá toàn diện nội dung vụ án và các chứng cứ, tài liệu liên quan, dẫn đến không đảm bảo quyền lợi hợp pháp của ông theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét kháng cáo của ông Đoàn Chí H1 thì thấy: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Đoàn Chí H1 phải trả số tiền 850.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy: Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 22/5/2022, ông Đoàn Chí H1 và bà Huỳnh Thị Kim H đã chốt công nợ, theo đó ông H1 còn nợ bà H số tiền 1.150.000.000 đồng. Sau ngày chốt công nợ, ông Đoàn Chí H1 đã chuyển khoản cho bà Huỳnh Thị Kim H qua số tài khoản 0110803642 tại Ngân hàng Đ, cụ thể: Ngày 25/5/2022, chuyển khoản 50.000.000 đồng; ngày 06/7/2022, chuyển khoản 50.000.000 đồng; ngày 01/8/2022, ông H1 nhờ ông Lại Phúc N chuyển khoản 65.000.000 đồng; ngày 11/8/2022, chuyển khoản 50.000.000 đồng; ngày 08/9/2022, chuyển khoản 65.000.000 đồng; ngày 21/9/2022, ông H1 trả 300.000.000 đồng. Trong tất cả những lần chuyển khoản trên, có 02 khoản ông H1 ghi trong chứng từ chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng trả lãi ngày 11/8/2022 và 65.000.000 đồng trả lãi ngày 08/9/2022. Ngoài ra, ông H1 còn trả cho bà H số tiền mặt 200.000.000 đồng ngày 21/9/2022. Tổng cộng ông

H1 trả là 780.000.000 đồng. Tuy nhiên, đây là số tiền ông H1 đã chuyển trả cho bà H nợ gốc và nợ lãi đã được hai bên thỏa thuận với nhau. Mặt khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đã có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số: 50/QĐ-ĐCSHS ngày 10/5/2023 đối với hành vi của bà Huỳnh Thị Kim H ‘’Cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự” nên xét thấy việc thỏa thuận vay tiền giữa hai bên dựa trên cơ sở tự nguyện. Sau khi ông H1 chuyển khoản trả nợ cho bà H, ông H1 không có ý kiến phản đối gì. Đến ngày 01/3/2023, ông H1 xác nhận tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng ông H1 còn nợ bà Huỳnh Thị Kim H số tiền 850.000.000 đồng và sau ngày chốt công nợ ngày 01/3/2023, ông H1 chưa trả cho bà H khoản tiền nào cả. Do đó, việc cấp sơ thẩm xác định buộc ông Đoàn Chí H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Huỳnh Thị Kim H số tiền nợ gốc 850.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ. Bà H không yêu cầu tính lãi nên HĐXX không xét đến.

[2] Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đoàn Chí H1 đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại ông H1 đã chuyển khoản cho bà H từ thời điểm hai bên chốt công nợ tổng số tiền gốc đến ngày 21/9/2022, ông H1 đã trả tổng tiền gốc và lãi bằng phương thức chuyển khoản là 580.000.000 đồng (trong đó có 300.000.000 đồng chuyển khoản ngày 21/9/2022) và 200.000.000 đồng tiền mặt trả cùng ngày 21/9/2022. Tổng cộng ông H1 đã trả được 780.000.000 đồng. Do đó, đề nghị tính trừ đi số tiền ông H1 đã trả cho bà H, còn lại là số tiền ông H1 còn nợ của bà H. Xét thấy quan điểm của Luật sư là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận.

[3] Từ những nhận định trên, HĐXX xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Chí H1.

[4] Án phí DSST: Ông Đoàn Chí H1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

[5] Do không chấp nhận kháng cáo nên ông Đoàn Chí H1 phải chịu án phí DSPT.

[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 44/2024/DSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo hướng không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Chí H1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 274, 275, 280, 357, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Chí H1 đối với bà Huỳnh Thị Kim H.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 44/2024/DSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  3. Án phí DSPT: Ông Đoàn Chí H1 phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001289 ngày 07/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân quận Thanh Khê;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng;
  • - Chi cục THA dân sự quận Thanh Khê;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bé

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2024/DS-PT ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về kiện đòi tiền

  • Số bản án: 153/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: kiện đòi tiền
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phúc Thẩm Hồng-Hiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger