Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 153/2023/DS-PT

Ngày: 24/8/2023

V/v Tranh chấp Hợp đồng

thuê tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Vũ;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hữu;

Ông Trần Nam Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mỹ Nhiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 24/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2023/TLPT-DS ngày 31/7/2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 173/2023/QĐ-PT ngày 04/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Lê Thị Hạnh N; Sinh ngày: 09/6/1978; Địa chỉ cư trú: L đường B, Khu dân cư M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Bỉnh K; Sinh ngày: 20/12/1976; Địa chỉ cư trú: L đường B, Khu dân cư M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T; Sinh ngày: 24/12/1990; Địa chỉ liên hệ: Số C, đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 17/8/2023. (có mặt)

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn P; Sinh ngày: 01/01/1974; Địa chỉ cư trú: Số A, ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  2. Bà Trần Thị Mỹ L; Sinh ngày: 01/01/1977; Địa chỉ cư trú: Số A, ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Trần Thị Mỹ L: Bà Nguyễn Thị Mỹ H; Sinh ngày: 07/02/2003; Địa chỉ cư trú: Số A, ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền lập ngày 18/8/2023. (có mặt)

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Bỉnh K, bà Lê Thị Hạnh N là nguyên đơn trong vụ án (do ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thực hiện); ông Nguyễn Văn P là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn trình bày như sau:

Vào ngày 01/5/2021, bà N, ông K với ông P, bà L cùng thống nhất ký một hợp đồng thuê bến có nội dung cơ bản như sau: Vợ chồng P, bà L thống nhất cho vợ chồng ông K, bà N thuê một bến giáp phía sau nhà sau của vợ chồng ông P, bà L có chiều ngang 8m, dài tới mé sông C thuộc ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Mục đích thuê: Để cho sà lan, ghe, tàu cập bến lên xuống, vận chuyển vật tư xây dựng (cát, đá, gạch...). Hai bên thống nhất ký hợp đồng có thời hạn là 05 năm. Tính từ ngày 01/05/2021 đến ngày 01/05/2026 Dương lịch. Giá tiền thuê là 10.000.000 đồng/năm. Kèm theo điều kiện vợ chồng ông K, bà N phải thanh toán trước 03 năm là 30.000.000 đồng. Hai bên thống nhất trong thời gian hợp đồng thuê 05 năm nếu gia đình ông P có nhu cầu cần sử dụng lấy lại bến bãi sẽ thông báo cho vợ chồng ông K, bà N trước 06 tháng để chuẩn bị phương án di dời vật tư và trả bến bãi và trong khoảng thời gian này vợ chồng ông K, bà N có toàn quyền sử dụng bến bãi và vẫn cho vợ chồng ông K, bà N vận chuyển lên xuống vật tư và cho sà lan, ghe, tàu neo đậu lên xuống hàng hóa. Đến ngày 12/6/2022, phía ông P không biết vì lý do gì đơn phương thông báo chấm dứt hợp đồng thuê bến bãi từ ngày 12/06/2022 đến ngày 12/12/2022 và viết giấy cam kết sẽ hoàn trả lại số tiền thuê bến đã nhận còn dư cho vợ chồng bà N, ông K. Sau khi hai bên bàn bạc thì vợ chồng bà N, ông K cũng thống nhất với ông P là trong thời gian 06 tháng từ ngày 12/06/2022 đến ngày 12/12/2022, vợ chồng bà N, ông K sẽ tìm kiếm bến bãi thuê mới và di dời vật tư đi nhưng trong khoảng thời gian này vợ chồng bà N, ông K có toàn quyền sử dụng bến bãi và vẫn cho vợ chồng bà N, ông K lên xuống vật tư và cho sà lan, ghe, tàu neo đậu lên xuống hàng hóa. Đến ngày 07/7/2022, khi sà lan chở vật tư của vợ chồng bà N, ông K neo đậu tại bến bãi mà bà vợ chồng N, ông K thuê của ông P để bốc hàng lên xuống, thì ông P và gia đình có hành vi hâm dọa, chửi bới, ngăn cản không cho phía vợ chồng bà N, ông K bốc hàng lên xuống tại bến bãi, sự việc trên được camera ghi lại. Do phía ông P đã đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê bến bãi trước thời hạn đã ký kết trong hợp đồng mà còn có hành vi hâm dọa, ngăn cản, chửi bởi trong khi hai bên đã thống nhất là kể từ ngày 12/06/2022 đến ngày 12/12/2022 thời hạn là 06 tháng sau khi thông báo việc chấm dứt hợp đồng thì sẽ cho thời gian phía bên thuê chủ động tìm bến bãi mới và di dời vật tư, ông P thống nhất không ngăn cản việc sà lan, ghe, tàu neo đậu để bốc vật tư lên xuống nhưng trong quá trình thực hiện phía gia đình ông P đã có hành vi cố tình vi phạm làm cho việc lên xuống hàng hóa là vật tư, việc neo đậu của sà lan gặp rất nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng bà N, ông K trong việc lên xuống vật tư mất rất nhiều chi phí và thời gian nhưng vẫn không lên vật tư được. Tổng thiệt hại do ông Phát đơn phương chấm dứt hợp đồng trong khi hợp đồng trong khi hợp đồng còn thời hạn, bên thuê cũng thực hiện đúng theo hợp đồng và phía ông P có hành vi ngăn cản nên tính đến thời điểm hiện nay thiệt hại của vợ chồng bà N, ông K cụ thể như sau: Thiệt hại tiền dầu là 4.100.000 đồng; Thiệt hại do phải tìm bãi mới thuê chi phí là 70.000.000 đồng; Thiệt hại do mua vật tư gia cố bến bãi thuê, tiền 08 cây dừa tấn bến là 4.000.000 đồng; Tiền 1.000 cái bao cát tấn bến là 5.000.000 đồng; T1 công thuê thợ phụ làm 2 người là 2.000.000 đồng. Tổng cộng chi phí thiệt hại là 85.100.000 đồng. Nay vợ chồng bà N, ông K yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

  • Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền thuê bến còn lại là 20.000.000 đồng cho vợ chồng bà N, ông K.
  • Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L bồi thường thiệt hại cho vợ chồng bà N, ông K số tiền là 85.100.000 đồng. Vợ chồng bà N, ông K không đồng ý theo yêu cầu phản tố của vợ chồng ông P, bà L.

* Theo Đơn phản tố và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày như sau:

Vào ngày 01/5/2021, vợ chồng ông P, bà L có cho vợ chồng bà N, ông K thuê bến tại phần đất thuộc thửa đất số 409, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng để cho sà lan, ghe, tàu cập bến lên xuống, vận chuyển vật tư xây dựng. Hai bên có lập Hợp đồng thuê bến đề ngày 01/5/2021. Thời hạn thuê là 05 năm, tính từ ngày 01/05/2021 đến ngày 01/05/2026 Dương lịch. Giá tiền thuê: 10.000.000 đồng/năm. Tổng cộng đã thanh toán 30.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, vào ngày 19/6/2022, ông K cho xáng cạp đất trên phần đất thuê làm bến làm hư hỏng nền xi măng ngang 08m, dài 15m, cạp sâu khoảng 01m - 1,5m, thiệt hại ước tính khoảng 15.000.000 đồng. Nhận thấy bà N, ông K sử dụng bến không đúng mục đích, vi phạm hợp đồng nên ông P yêu cầu chấm dứt hợp đồng, có thông báo cho ông K, bà N và rào lưới B40 xung quanh để giữ nguyên hiện trạng phần đất chỗ ông K, bà N múc đất đi chứ ông và bà L không có ngăn cản ông K, bà N sử dụng bến. Trong quá trình sử dụng bến, ông K, bà N có sử dụng cây dừa và bao cát tấn bến hay không thì ông P không biết, phần này nếu ông K bà N có tấn bến thì có quyền lấy dừa và bao cát đi, ông P không ý kiến nhưng ông P không đồng ý bồi thường. Nay đối với yêu cầu của bà N, ông K thì ông P không đồng ý và yêu cầu Tòa án giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, buộc nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N và ông Nguyễn Bỉnh K bồi thường cho ông P, bà L số tiền là 15.000.000 đồng do làm hư hại nền xi măng ngang 08m, dài 15m, diện tích 120 m²; bồi thường thiệt hại 120 m³ đất mà vợ chồng ông K cho xáng dây cạp đất với số tiền 120 m³ x 250.000 đồng/m³ = 30.000.000 đồng. Tổng cộng yêu cầu bồi thường số tiền là 45.000.000 đồng và buộc ông K, bà N khôi phục lại hiện trạng ban đầu đối với phần diện tích đất mà ông K đã thuê.

* Vụ án được Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm.

* Tại Bản án dân sư sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

  • Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 472 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N và ông Nguyễn Bỉnh K, về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L trả số tiền thuê bến đã trả trước chưa sử dụng.
  2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N và ông Nguyễn Bỉnh K số tiền thuê bến là 20.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N và ông Nguyễn Bỉnh K về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn P, Trần Thị Mỹ L bồi thường thiệt hại số tiền 85.100.000 đồng.

Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K, bà Lê Thị Hạnh N có trách nhiệm di dời 08 thân cây dừa trên phần đất đã thuê để giao trả lại phần đất thuê có diện tích 8m x 20m cho ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L, đất tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn P, Trần Thị Mỹ L, về việc yêu cầu nguyên đơn bà Lê Thị Hạnh N và ông Nguyễn Bỉnh K bồi thường số tiền 45.000.000 đồng và yêu cầu khôi phục lại hiện trạng ban đầu đối với phần diện tích đất thuê.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 26/5/2023, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm (do ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp làm đơn kháng cáo), yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L phải bồi thường cho vợ chồng nguyên đơn chi phí đầu tư cho bến bãi trong thời gian thuê và chi phí thiệt hại do ông P, bà L đơn phương chấm dứt hợp đồng với tổng số tiền là 85.100.000 đồng.

* Ngày 31/5/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng xác định số tiền thuê bến mà ông P, bà L phải trả lại cho ông K, bà N là 18.166.667 đồng và chấp nhận yêu cầu phản tố bị đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn không rút đơn phản tố.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị đơn Nguyễn Văn P rút lại kháng cáo đối với nội dung xác định số tiền thuê bến mà ông P, bà L phải trả cho ông K, bà N là 18.166.667 đồng và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc nguyên đơn bồi thường thiệt hại theo đơn kháng cáo với số tiền 45.000.000 đồng.

- Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng như sau:

  • Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị đơn bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn số tiền 85.100.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng minh thiệt hại và căn cứ yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Nguyễn Văn P rút lại kháng cáo về nội dung xác định số tiền thuê bến mà ông P, bà L phải trả cho ông K, bà N là 18.166.667 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này của bị đơn. Đối với kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn P về việc buộc nguyên đơn bồi thường thiệt hại số tiền 45.000.000 đồng và buộc nguyên đơn khôi phục tình trạng ban đầu nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn Nguyễn Văn P, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Lê Thị Hạnh N, Nguyễn Bỉnh K vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp của họ tham dự phiên tòa. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của nguyên đơn (do người đại diện hợp pháp thực hiện kháng cáo) lập và nộp trực tiếp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 26/5/2023 và Đơn kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn P lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 31/5/2023 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Nguyễn Văn P rút lại kháng cáo về nội dung xác định số tiền thuê bến mà ông P, bà L phải trả lại cho ông K, bà N là 18.166.667 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn P, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định số tiền thuê bến mà ông P, bà L phải trả cho ông K, bà N là 18.166.667 đồng và xem xét lại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 16/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng theo nội dung kháng cáo của các bên đương sự.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn (do người đại diện hợp pháp thực hiện kháng cáo), về việc buộc bị đơn bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trước hạn với tổng số tiền là 85.100.000 đồng: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thừa nhận việc hai bên đương sự thỏa thuận, ký hợp đồng thuê bến vào ngày 01/5/2021. Căn cứ nội dung Hợp đồng thuê bến lập ngày 01/5/2021 giữa ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L với ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N (bút lục số 07) thì có nội dung bên cho thuê là vợ chồng ông P, bà L có quyền lấy lại bến cho thuê trước khi hết hạn hợp đồng nhưng phải thông báo cho phía bên thuê là vợ chồng ông K, bà N trước 06 tháng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự cũng thừa nhận vào ngày 12/6/2022 phía ông P thông báo chấm dứt hợp đồng cho thuê bến trước hạn cho bên thuê và hai bên cũng đã thống nhất chấm dứt hợp đồng, nguyên đơn có thời gian tìm nơi khác để di dời vật tư là 06 tháng với thời hạn cuối là ngày 12/12/2022. Đến ngày 07/7/2022, phát sinh sự việc mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn dẫn đến bị đơn ngăn cản và nguyên đơn không còn sử dụng bến bãi đã thuê của bị đơn đến nay và tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn cũng xác định phía nguyên đơn đã di dời toàn bộ vật tư đi nơi khác, chỉ còn 08 thân cây dừa, các bao cát và các miếng bê tông chống sạt lở. Tuy nhiên, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên lập ghi nhận (bút lục số 59-60) thì trên phần bến bãi mà bị đơn cho nguyên đơn thuê chỉ có 08 thân cây dừa mà không có các bao cát, miếng bê tông chống sạt lỡ như phía nguyên đơn trình bày. Như vậy, có thể xác định đến ngày 07/7/2022 phía nguyên đơn đã di dời toàn bộ vật tư xây dựng khỏi phần đất bến bãi đã thuê của bị đơn. Đồng thời, nội dung hợp đồng thuê bến ngày 01/5/2021 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn không có thỏa thuận nội dung bồi thường thiệt hại khi chấm dứt hợp đồng trước hạn và khi hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cũng không có thỏa thuận nội dung bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng trước hạn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng cho thuê bến trước hạn với tổng số tiền là 85.100.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn P, về việc buộc nguyên đơn bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng nền xi măng ngang 08m, dài 15m và cho xáng cạp lấy đi phần đất 120 m² với tổng số tiền là 45.000.000 đồng và buộc nguyên đơn khôi phục lại tình trạng bến ban đầu để trả lại bến đã thuê cho bị đơn: Xét trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn P không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc nguyên đơn có hành vi làm hư hỏng nền xi măng ngang 08m, dài 15m và cho xáng cạp lấy đi phần đất 120 m³ của bị đơn, cũng như phía nguyên đơn không thừa nhận có thực hiện hành vi này nên không có căn cứ chấp nhận. Bên cạnh đó, khi nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng thuê bến không có thỏa thuận khi bên thuê giao trả cho bên cho thuê thì phải khôi phục tình trạng bến như khi bên cho thuê bàn giao cho bên thuê. Đồng thời, khi bàn giao bến cho thuê thì hai bên không xác lập hiện trạng thời điểm bàn giao và bị đơn cũng không chứng minh được hiện trạng khi bàn giao bến cho bên thuê là như thế nào, đến ngày 07/7/2022 thì hiện trạng có thay đổi so với thời điểm bàn giao bến cho nguyên đơn thuê. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn P và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất xác định vật tư xây dựng của nguyên đơn hiện không còn trên phần bến mà bị đơn cho nguyên đơn thuê. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, về việc yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 45.000.000 đồng và buộc nguyên đơn khôi phục lại tình trạng bến ban đầu để trả lại bến đã thuê cho bị đơn là có căn cứ, đúng quy định theo quy định tại các điều 472 và 482 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Từ những nhận định trên, căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn (do người đại diện hợp pháp thực hiện kháng cáo) và kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng khác:

[7] Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 148 và Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận là 4.255.000 đồng.

[9] Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 2.250.000 đồng và đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 1.000.000 đồng. Tổng số tiền án phí dân sự thẩm mà bị đơn phải chịu là 3.250.000 đồng. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chưa khấu trừ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bị đơn đã nộp là thiếu sót, Hội đồng xét xử phúc thẩm nêu để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[10] Bị đơn chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 700.000 đồng.

[11] Nguyên đơn Lê Thị Hạnh N, Nguyễn Bỉnh K, bị đơn Nguyễn Văn P, mỗi người chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn P, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xác định số tiền thuê bến mà ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L phải trả lại cho ông Nguyễn Bỉnh K, bà Lê Thị Hạnh N là 18.166.667 đồng.
  • Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K, bà Lê Thị Hạnh N (do người đại diện hợp pháp thực hiện kháng cáo), về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị đơn ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K, bà Lê Thị Hạnh N với tổng số tiền là 85.100.000 đồng.
  • Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn P, về việc yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K, bà Lê Thị Hạnh N bồi thường thiệt hại cho bị đơn ông Nguyễn Văn P, bà Trần Thị Mỹ L với tổng số tiền là 45.000.000 đồng.
  • Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2022/DS-ST ngày 16/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng và phần Quyết định được tuyên lại như sau:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 472, Điều 482 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

- Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N, về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L trả số tiền thuê bến đã trả trước chưa sử dụng.
  2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N với số tiền thuê bến là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N, về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L bồi thường thiệt hại với tổng số tiền 85.100.000 đồng.

Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N có trách nhiệm di dời 08 thân cây dừa trên phần đất đã thuê để giao trả lại phần đất thuê có diện tích 8m x 20m cho ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L, đất tọa lạc tại ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn P và ông Trần Thị Mỹ L, về việc yêu cầu nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N bồi thường tổng số tiền 45.000.000 đồng và yêu cầu khôi phục lại hiện trang ban đầu đối với phần diện tích đất thuê (bến cho thuê).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • Nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.255.000 đồng (bốn triệu, hai trăm năm mươi lăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.700.000 đồng (hai triệu, bảy trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005504 ngày 12/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N có nghĩa vụ liên đới nộp thêm tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.555.000 đồng (một triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
  • Bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.250.000 đồng (ba triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.125.000 đồng (một triệu, một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005528 ngày 03/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L có nghĩa vụ liên đới nộp thêm tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.125.000 đồng (hai triệu, một trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
  1. Về chi phí tố tụng khác: Bị đơn ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp là 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) theo Phiếu thu số T002 ngày 03/01/2023 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Ông Nguyễn Văn P và bà Trần Thị Mỹ L đã nộp xong.
  2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

* Về án phí dân sự phúc thẩm:

  • Nguyên đơn ông Nguyễn Bỉnh K và bà Lê Thị Hạnh N, mỗi người chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009447 ngày 15/6/2023 và số 0010256 ngày 20/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
  • Bị đơn ông Nguyễn Văn P chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009412 ngày 01/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01 bản);
  • - TAND huyện M (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện M (01 bản);
  • - Các đương sự (04 bản);
  • - Lưu: VP, HS (05 bản).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thanh Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 153/2023/DS-PT ngày 24/08/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Số bản án: 153/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bên đương sự tranh chấp về hợp đồng thuê tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger