|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 153/2022/HS - ST Ngày 24 - 8 - 2022 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Văn Kiên.
- Ông Dương Hữu Hảo.
- Thư ký phiên toà:
Ông Trần Quốc Huy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã là Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm.
Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã là thư ký tại điểm cầu thành phần.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 8 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã và điểm cầu thành phần thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2022/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2022, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 159/2022/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Q - Sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản L, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; CX ông Lò Văn C1 (đã chết) và bà Lò Thị A1; Bị cáo có vợ là Lường Thị X và có 02 cX (CX lớn sinh năm 2009, cX nhỏ sinh năm 2011); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 27/3/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Lò Văn H3 - Sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản P3, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; CX ông Lò Văn D (đã chết) và bà Lò Thị T2; Bị cáo có vợ là Lường Thị Y và có 01 cX (sinh năm 2003); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 27/3/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lường Thị X, sinh năm 1983. Trú tại: Bản P3, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trXg hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 15 phút ngày 26/3/2022 tổ công tác Công an xã D4, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại khu vực bản T5, xã D4, huyện S phát hiện Lò Văn Q, Lò Văn H3 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay bên phải của Q có 01 gói nilX màu trắng bên trXg có chứa chất bột liên kết màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng (Q và H3 khai nhận là Heroine và Hồng phiến). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phXg vật chứng theo quy định, ngoài ra tạm giữ của H3 01 xe mô tô nhãn hiệu HXda BKS 26K7- 1697 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F11; tạm giữ của Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9.
Ngày 27/3/2022 tại Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng bóc, mở niêm phXg, cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả:
- 02 viên nén màu hồng thu giữ có tổng khối lượng là 0,18 gam. Đã trích 01 viên có khối lượng 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q1, vật chứng còn lại 01 viên có khối lượng 0,09 gam ký hiệu L1.
- Số chất bột liên kết màu trắng thu giữ có tổng khối lượng là 36,89 gam. Đã trích 0,22 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu Q2. Vật chứng còn lại 36,67gam ký hiệu L2.
Kết luận giám định số 559/KL-KTHS ngày 29/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
- Mẫu gửi giám định ký hiệu Q1 là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam.
- Mẫu gửi giám định ký hiệu Q2 là ma túy loại Heroine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,22 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam; loại Methamphetamine và 36,89gam; loại Heroine”.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 26/3/2022, Q gọi điện thoại di động cho H3 (là em họ của Q) để rủ H3 đến xã D4, huyện Sông Mã tìm mua ma túy về cùng sử dụng, H3 đồng ý. Sau đó H3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HXda BKS 26K7- 1697 đến đón Q cùng đi vào xã D4. Trên đường đi Q đưa cho H3 50.000đ để H3 đổ xăng xe mô tô, rồi Q chỉ đường cho H3 đến nhà Lầu Bả S4 - trú tại bản M4, xã D4, huyện Sông Mã để hỏi mua ma túy. Khi đến nhà S4, Q và H3 thấy nhà S4 đang đóng cửa, nên Q gọi điện thoại di động cho S4, một lúc sau S4 mở cửa cho Q và H3 vào nhà. Khi vào nhà, H3 đi tìm nước uống, còn Q đi xuống bếp cùng với S4. Lúc này Q hỏi mua ma túy của S4 và đưa cho S4 số tiền 3.700.000đ, S4 nhận lấy tiền rồi đi ra khỏi nhà, còn Q lên nhà của S4 để đợi cùng với H3. Khoảng 40 phút sau, S4 quay về và đưa cho Q 01 gói NilX màu trắng, Q nhận lấy mở ra xem thì thấy bên trXg có chứa Heroine và 01 gói NilX màu trắng có chứa 03 viên Hồng phiến. Q lấy ra 01 viên Hồng phiến cùng một ít Heroine để Q, H3 và S4 cùng sử dụng bằng hình thức đốt, hít vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xXg thì Q gói số ma túy còn lại và cầm vào trXg lòng bàn tay phải, ngồi sau xe mô tô do H3 điều khiển đi về. Khi cả hai đi về đến bản T5, xã D4, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác của Công an xã D4, huyện Sông Mã làm nhiệm vụ phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKSSM ngày 20 tháng 7 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn Q, Lò Văn H3 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Văn Q từ 11 năm – 11 năm 06 tháng tù, Lò Văn H3 từ 10 năm 06 tháng – 11 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định cùng 01 vỏ phXg bì niêm phXg vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilX; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động; trả lại 01 xe mô tô cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là vợ của bị cáo H3, chiếc xe bị thu giữ trXg vụ án là tài sản chung của vợ chồng, khi bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy chị không biết, chiếc xe là phương tiện đi lại duy nhất trXg gia đình, chị đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho chị, ngoài ra chị không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì và khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo H3 nhất trí với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trXg hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, Q định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trXg quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Q định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, Q định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 19 giờ 20 phút, ngày 26/3/2022 đối với Lò Văn Q, Lò Văn H3 cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilX màu trắng bên trXg có chứa chất bột liên kết màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng; Kết luận giám định số 559/KL-KTHS ngày 29/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam loại Methamphetamine và 36,89 gam loại Heroine”.
- Lời khai của các bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 26/3/2022 đã cùng nhau đi mua được 01 gói Heroine và 03 viên hồng phiến của một người đàn ông tên là Lầu Bả S4 trú tại bản M4, xã D4, huyện Sông Mã với giá 3.700.000đ về nhằm mục đích để sử dụng, sau khi mua được đã trích ra một ít Heroine và 01 viên hồng phiến để cả 3 cùng sử dụng, sau khi sử dụng xXg Q gói số ma túy còn lại, cầm ở lòng bàn tay phải, ngồi sau xe do H3 điều khiển quay về, khi về đến khu vực bản T5, xã D4, huyện Sông Mã thì bị phát hiện bắt quả tang.
- Lời khai nhận tội của các bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trXg hô sơ vụ án. Các bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/3/2022 các bị cáo đã có hành vi tàng trữ 0,18 gam Methamphetamine và 36,89 gam Heroine (tổng hai chất có khối lượng là 37,07 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi các bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “10 năm đến 15 năm tù”.
- [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Là vụ án có đồng phạm, trXg đó bị cáo Q là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H3 cùng đi mua ma túy về sử dụng, là người bỏ ra toàn bộ số tiền để mua mua ma túy, đồng thời là người trực tiếp trao đổi mua bán và cất giữ ma túy nên giữ vai trò chính trXg vụ án là người chủ mưu, cầm đầu. Bị cáo H3 sau khi tiếp nhận ý chí từ bị cáo Q mặc dù không được bàn bạc cụ thể trước với bị cáo Q về việc sẽ mua bao nhiêu ma túy nhưng cũng không có ý kiến gì khác như vậy là mặc nhiên chấp nhận việc bị cáo Q mua bao nhiêu ma túy cũng được, sau đó đã sử dụng phương tiện và trực tiếp cùng bị cáo Q đi tìm mua ma túy nên giữ vai trò là đồng phạm giúp sức tích cực.
Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trXg xã hội.
- [4] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng ma tuý, vai trò của từng bị cáo trXg vụ án để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
- [5] Về hình phạt bổ sung: Bản thân các bị cáo và gia đình không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- [6] Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định được đựng trXg các túi nilX và 01 vỏ phXg bì niêm phXg vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilX là những vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 xe mô tô xác định là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng bị cáo H3, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết và có đề nghị được trả lại nên cần chấp nhận; đối với 02 điện thoại di động là tài sản các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
- [7] Về các vấn đề khác có liên quan trXg vụ án:
Về người đàn ông tên Lầu Bả S4 trú tại M4, xã D4, huyện Sông Mã các bị cáo khai là người đã bán ma túy cho các bị cáo vào ngày 26/3/2022. Quá trình điều tra, nhận dạng xác định tại bản M4, xã D4 có một người tên Lầu Bả S4, sinh năm 1961 giống như Q và H3 đã miêu tả. Tuy nhiên ngày 18/04/2022, S4 đã chết do bệnh lý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với S4 là có căn cứ chấp nhận.
- [8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên.
Q ĐỊNH:
- 1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Lò Văn Q, Lò Văn H3 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Q 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn H3 10 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- 2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Methamphetamine được đựng trXg 01 túi nilX, 36,67 gam Heroine được đựng trXg 01 túi nilX, 02 mảnh nilX, 01 phXg bì niêm phXg vật chứng ban đầu đã bóc mở; Tất cả được đựng trXg 01 phXg bì đã dán kín, niêm phXg đúng quy định, mặt sau phXg bì trên giấy niêm phXg có mã số 081720.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, vỏ màu xanh của Lò Văn H3, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, vỏ màu xanh của Lò Văn Q.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 xe mô tô nhãn hiệu HXda BKS 26K7- 1697.
Theo Q định chuyển vật chứng số 87/QĐ – VKS ngày 20/7/2022 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/7/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
- 3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Các Điều 21, 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trXg hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/8/2022).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 153/2022/HS - ST ngày 24/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)
- Số bản án: 153/2022/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hai bị cáo cùng có hành vi tàng trữ để sử dụng cùng nhau
