|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 153/2022/HS-ST
Ngày 16 - 6 - 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Lành
2. Ông Trần Xuân Viện
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lê Văn Q, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/10/1983
Nơi cư trú: Xóm G Q, xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên
Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Đ, sinh năm 1961 (đã chết); Con bà: Phạm Thị B, sinh năm 1961; vợ là: Lưu Thị N, sinh năm 1983; vợ chồng có 02 con chung, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2022 đến ngày 09/01/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04/12/1992
Nơi cư trú: Tổ 02, phường P X, thành phố T N, tỉnh Thái Nguyên
Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1965; Con bà: Bùi Thị L, sinh năm 1967; vợ là: Long Thị Tâm, sinh năm 1992; vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2022 đến ngày 09/01/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Phường P X, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Cao Sỹ K, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/02/1989
Nơi cư trú: Xóm Đ C, xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên
Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Thiên H, sinh năm 1952 (đã chết); Con bà: Ngô Thị H, sinh năm 1953 (đã chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2022 đến ngày 09/01/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Lê Văn T, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24/4/1987.
Nơi cư trú: Xóm Gốc Quéo, Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên.
Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Nam, sinh năm 1957; Con bà: Vũ Thị Q, sinh năm 1958; có vợ là: Nguyễn Thị P, sinh năm 1991 và có 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2022 đến ngày 09/01/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Họ và tên: Hoàng Văn Cương, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/8/1982
Nơi cư trú: Xóm Đ L, Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên
Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T, sinh năm 1958; Con bà: Lê Thị L, sinh năm 1961; có vợ là: Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1987 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2022 đến ngày 09/01/2022 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại: Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Sỹ B, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 8, phường P Đ P, thành phố T N, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 50 phút ngày 03/01/2022, đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại ngôi nhà đang xây dựng trên đường Đặng Văn Ngữ đoạn thuộc tổ 08, phường P Đ P, thành phố Thái Nguyên (do anh Trần Văn H, sinh năm 1975; HKTT: Tổ dân phố T 3, phường C N 2, quận BTL, thành phố Hà Nội làm chủ cai công trình) có một nhóm đối tượng tụ tập đánh bạc gây mất an ninh trật tự. Tổ công tác Đội cảnh sát hình sự Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Công an phường P Đ P, thành phố Thái Nguyên tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tại phòng ngủ tầng ba của căn nhà đang xây trên có 05 đối tượng gồm: Lê Văn Q, Nguyễn Văn T, Cao Sỹ K, Lê Văn T và Hoàng Văn C đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng gồm:
-
Tiền thu giữ trên chiếu bạc và tại vị trí ngồi của các đối tượng tham gia đánh bạc là: 6.880.000đ (Sáu triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng). Trong đó:
- + Thu giữ ở giữa chiếu bạc số tiền là: 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng)
- + Thu giữ tại vị trí ngồi của Lê Văn Q số tiền là 1.140.000đ (Một triệu, một trăm bốn mươi nghìn đồng).
- + Thu giữ tại vị trí ngồi của Nguyễn Văn T số tiền là: 1.010.000đ (Một triệu, không trăm mười nghìn đồng).
- + Thu giữ tại vị trí ngồi của Cao Sỹ K số tiền là: 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
- + Thu giữ tại vị trí ngồi của Lê Văn T số tiền là: 220.000đ (Hai trăm hai mươi nghìn đồng).
- + Thu giữ tại vị trí ngồi của Hoàng Văn C số tiền là: 3.510.000đ (Ba triệu, năm trăm mười nghìn đồng).
- 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài, đã qua sử dụng trên chiếu bạc.
- 01 (một) chiếc chiếu nhựa, kích thước 2m x 2,2m đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T và Hoàng Văn C khai nhận: Quyết, Khiêm, Lê Văn T và Cương đang là thợ xây dựng căn nhà cho anh Trần Văn H tại tổ 08, phường P Đ P, thành phố Thái Nguyên và cùng nhau sinh hoạt tạm thời tại căn nhà trên trong quá trình xây dựng. Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2022, Q, K, Lê Văn T và C rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền tại phòng ngủ tầng ba căn nhà trên. Sau đó, K đi sang phòng bên cạnh lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn còn Q, Lê Văn T và C trải 01 chiếc chiếu nhựa ra sàn nhà để cùng nhau đánh bạc. Lúc này, có Nguyễn Văn T đến và xin tham gia đánh bạc cùng thì các đối tượng trên đồng ý. Sau đó, Quyết, Khiêm, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và C cùng nhau ngồi trên chiếc chiếu nhựa trong phòng ngủ tầng ba đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền, đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Hình thức đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền được các đối tượng quy ước như sau: Người chơi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ quân A đến K, các quân bài A,2,3,4,5,6,7,8,9 có điểm lần lượt từ 01 đến 09 điểm, các quân bài J,Q,K được gọi là quân bài “đầu người”. Ván đầu tiên chọn ngẫu nhiên một người chia bài, từ ván thứ hai trở đi ai là người về nhất ván trước sẽ là người chia bài và đánh đầu tiên. Người chia bài sẽ chia cho mỗi người chơi một phần bài gồm 03 lá bài, từng người chơi cầm phần bài của mình lên và xem bài. Quy ước thứ tự các bộ 03 lá bài từ lớn đến nhỏ như sau:
- + “Sáp” là bộ có 03 lá bài giống nhau và là bộ bài lớn nhất. Nếu hai người cùng có “Sáp” thì người nào có “Sáp” cao hơn sẽ thắng, nhỏ nhất là sáp 2, lớn nhất là sáp A.
- + “Liêng” là bộ 03 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, trong đó bộ (A,2,3) là liêng nhỏ nhất, bộ (Q,K,A) là liêng lớn nhất. Khi hai người đều có “Liêng” giống nhau thì so sánh chất của lá bài cao nhất trong bộ “Liêng” theo thứ tự ưu tiên là rô, cơ, tép, bích.
- + “Đĩ” là bộ 03 quân bài đều là “đầu người”. Khi hai người đều có “Đĩ” giống nhau thì so sánh chất của lá bài cao nhất trong bộ “Đĩ” theo thứ tự ưu tiên là rô, cơ, tép, bích.
- + Khi nào bài không có Sáp, Liêng, Đĩ thì bắt đầu tính điểm, cộng điểm 03 quân bài lại với nhau, các quân bài A,2,3,4,5,6,7,8,9 có điểm lần lượt từ 01 đến 09 điểm, số điểm là số ở hàng đơn vị của tổng điểm 03 quân bài, các quân bài 10, J, Q, K không được tính điểm.
Khi bắt đầu chơi, mỗi người chơi lần lượt đặt số tiền 10.000 đồng gọi là tiền “gà”. Sau đó, lần lượt từng người tham gia “tố”, người “tố” đầu tiên là người chia bài. Người tham gia “tố” có thể tiếp tục đặt số tiền từ 10.000 đồng đến tối đa 100.000 đồng vào giữa chiếu. Người chơi tiếp theo có thể lựa chọn “úp bỏ” (khi thấy số điểm của mình có giá trị nhỏ và mất toàn bộ số tiền cược), “theo” (tức là đặt cược đúng bằng số tiền người trước đặt) hoặc “tố” (tức là đặt thêm tiền cược cao hơn với những người trước đã đặt). Các người chơi lần lượt “tố” nhưng mỗi người không được tố quá 03 lần. Sau khi người chơi cuối cùng không còn “tố” nữa thì lật bài để so sánh xem người nào thắng ván bài sẽ được hưởng toàn bộ tiền “gà” và “tố” của những người chơi khác.
Về số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc: Lê Văn Q khai nhận dùng số tiền khoảng 1.100.000 đồng; Nguyễn Văn T khai nhận dùng số tiền khoảng 1.600.000 đồng; Cao Sỹ K khai nhận dùng số tiền khoảng 900.000 đồng; Lê Văn T khai nhận dùng số tiền khoảng 450.000 đồng; Hoàng Văn C khai nhận dùng số tiền khoảng 1.700.000 đồng. Các đối tượng đều xác định số tiền 6.880.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang là tiền của các đối tượng dùng vào việc đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền, không có ai bỏ thêm tiền hay rút bớt tiền ra khỏi chiếu bạc.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 93/CT-VKSTPTN, ngày 28/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo: Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Hoàng Văn C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 93/CT-VKSTPTN, ngày 28/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Hoàng Văn C phạm tội “Đánh bạc”
-
Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự;
- - Xử phạt: bị cáo Lê Văn Q mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Cao Sỹ K mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Lê Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn C mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Giao các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Hoàng Văn C cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thử thách.
-
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền do các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 6.880.000đ.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, gồm 52 quân bài và 01 chiếu nhựa, màu vàng -nâu, kích thước 2.0 x 2,2m, đã qua sử dụng.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Hoàng Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho các được hưởng lượng khoan hồng, được cải tạo, giáo dục tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Người chứng kiến, anh Hoàng Sỹ B trình bày: Khoảng 21 giờ 50 phút, ngày 03/01/2021, anh Hoàng Sỹ B được Tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên mời tham gia chứng kiến việc kiểm tra, bắt quả tang các đối tượng Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Hoàng Văn C đang đánh bạc, với hình thức đánh "Liêng" được thưa bằng tiền tại phòng số 02 – Tầng 3 của ngôi nhà đang xây dựng ở đường Đặng Văn Ngữ, thuộc tổ 8, phường P Đ P, thành phố Thái Nguyên. Quá trình bắt quả tang đã phát hiện và thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 6.880.000đ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và 01 chiếu nhựa, mầu vàng – nâu đã qua sử dụng, sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm pháp quả tang, thu giữ các vật chứng và đưa các đối tượng tham gia đánh bạc về cơ quan công an để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Nguyễn Văn T và Hoàng Văn C tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra và lời khai lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20 giờ ngày 03/01/2022, tại phòng số 02 – Tầng 3 của ngôi nhà đang xây dựng của anh Trần Văn H, nằm trên đường Đặng Văn Ngữ, thuộc tổ 8, phường P Đ P, thành phố Thái Nguyên, các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Hoàng Văn C và Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh "Liêng" được thua bằng tiền, với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 6.880.000đ (Sáu triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng), nhằm mục đích thu lời bất chính, đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày thì bị tổ công tác của Công an thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh "Liêng" được thua bằng tiền do các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Hoàng Văn C và Nguyễn Văn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 93/VKSTPTN ngày 28/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ....... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, HĐXX thấy:
Hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện thuộc loại tội ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội chủ yếu do các bị cáo ham vui, hám lời, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án, thì thấy: Hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, câu kết một cách chặt chẽ. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều cùng
nhau thống nhất ý trí, chuẩn bị công cụ và cùng nhau trực tiếp tham gia đánh bạc, vai trò của các bị cáo trong vụ án cơ bản là tương đương nhau.
[5]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy rằng:
- - Về nhân thân: Các bị cáo đều xuất thân từ gia đình nông nghiệp, từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học, lớn thì đi làm nghề thợ xây; Bản thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự và đều là người có nhân thân tốt.
- - Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng – Do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và "Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng" quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng: Các bị cáo phạm tội thuộc loại tội ít nghiêm trọng, bản thân các bị cáo đều là có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, khi lượng không cần thiết phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian, mà cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng, cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương vẫn đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung; Mức án mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều là người lao động đi làm thuê, công việc, thu nhập không ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7]. Việc xử lý hành vi và đối tượng có liên quan: Liên quan đến vụ án này còn có anh Trần Văn Hà là chủ ngôi nhà nơi các bị cáo sử dụng để đánh bạc, tuy nhiên quá trình điều tra xác định anh Trần Văn Hà là người nhận cai công trình và cho các thợ xây sử dụng công trình xây dựng vào việc ăn, ngủ, sinh hoạt trong quá trình thi công. Khi các bị cáo sử dụng địa điểm trên vào việc đánh bạc, anh Hà không có mặt tại công trình và không biết các bị cáo sử dụng ngôi nhà trên vào việc đánh bạc, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên đã không xử lý đối với hành vi của anh Trần Văn Hà là phù hợp.
[8]. Về vật chứng của vụ án:
- - Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và 01 chiếu nhựa, mầu vàng – nâu đã qua sử dụng – xác định là công cụ, phương tiện dùng cho việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần xử lý tịch thu, tiêu hủy.
- - Số tiền 6.880.000đ thu giữ của các bị cáo khi bắt quả tang được xác định là khoản tiền dùng vào việc phạm tội, nên cần xử lý tịch thu nộp truy thu sung quỹ nhà nước.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trong giải đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T và Hoàng Văn Cương, mỗi bị cáo đã tạm nộp số tiền 200.000đ tiền án phí, nên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[10]. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ, áp dụng pháp luật: Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Các điều 123, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
-
Về tội danh và quyết định hình phạt:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Hoàng Văn C và Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
-
Về hình phạt:
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Q 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Cao Sỹ K 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14(mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn C 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Giao các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T và Hoàng Văn C cho chính quyền địa phương là UBND Xã K K, huyện Đ T, tỉnh Thái Nguyên; Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho chính quyền địa phương là UBND Phường P X, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Hoàng Văn C và Nguyễn Văn T với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.
-
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và 01 chiếu nhựa, mầu vàng – nâu đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 6.880.000đ (Sáu triệu, tám trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo khi bắt quả tang.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, ngày 14/4/2022 và Phiếu ủy nhiệm chi số 12, ngày 30/3/2022 do Công an thành phố Thái Nguyên chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
- 4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T, Hoàng Văn C và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước (Tiền án phí của bị cáo Lê Văn Q, Cao Sỹ K, Lê Văn T và Hoàng Văn C được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000516; 0000517; 0000518, 0000519 ngày 17/5/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
- 5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND thành phố Thái Nguyên;
- - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
- - Công an thành phố Thái Nguyên;
- - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
- - Bị cáo;
- - UBND Xã K K, huyện Đ T;
- - UBND Phường P X, TP. Thái Nguyên;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần |
Bản án số 153/2022/HS-ST ngày 16/06/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 153/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Sỹ K cùng đồng phạm phạm tội Đánh bạc
