Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1528/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-6-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Trần Đăng Vạn
  • 2/ Ông Mai Thanh Giàu

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng D – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 585/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 4895/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4896/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

2/ Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1989.

Địa chỉ: số C B, khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 03/3/2025, bản tự khai ngày 28/3/2025, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 04/4/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn L trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Kim L1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 75/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 10/7/2014. Sau khi kết hôn, ông và bà L1 chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019 do ông thay đổi địa điểm làm việc về Long An nên giữa vợ chồng không còn sự gần gũi, quan tâm chia sẻ và phát sinh mâu thuẫn: mỗi lần gặp mặt vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là cả hai không tìm được tiếng nói chung về nơi sinh sống và tổ chức đời sống chung vợ chồng: bà L1 muốn sinh sống và làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi gia đình và công việc của ông thì ở Long An. Ông và bà L1 tìm nhiều cách nhưng không giải quyết được. Ông và bà L1 đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông và bà L1 trở nên trầm trọng, cả hai đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Ông xác định ông không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống với bà L1 được nữa nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim L1.

Về con chung: Ông và bà L1 có 02 con chung là Trần Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/4/2015 và Trần Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 28/4/2019. Các con chung hiện đang sống với bà L1. Trước đây do công việc còn tốt mỗi tháng ông đều đóng tiền học và phụ thêm 3.000.000 đồng tiền ăn của các con cho bà L1. Tuy nhiên, do hiện nay công việc của ông không ổn định, mức lương không còn như trước, ông còn mẹ già phải chăm sóc phụng dưỡng nên khi ly hôn ông yêu cầu giao con chung cho bà L1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Ông cấp dưỡng nuôi con mỗi con mỗi tháng 2.500.000 đồng, tổng cộng là 5.000.000 đồng/tháng bắt đầu từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng nuôi con ông sẽ trực tiếp đưa cho bà L1 vào ngày 05 dương lịch hàng tháng.

Về tài sản chung: Ông và bà L1 không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông và bà L1 không có nợ chung.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L1 đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:

  • - Về xác định quan hệ tranh chấp: Ông L, bà L1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 10/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2019 do ông L thay đổi địa điểm làm việc về Long An nên giữa vợ chồng không còn sự gần gũi, quan tâm chia sẻ, không tìm được tiếng nói chung về nơi sinh sống và tổ chức đời sống chung vợ chồng nên phát sinh mâu thuẫn, đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện ông L và bà L1 đã sống ly thân từ tháng 01/2020 đến nay, ông L xác định không còn tình cảm với bà L1 nên ông làm đơn gửi Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức yêu cầu ly hôn với bà L1. Do đó khi thụ lý Thẩm phán căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn” là có cơ sở.
  • - Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố T do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải quyết là đúng qui định của pháp luật.
  • - Về xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự: Đúng qui định tại Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về xác minh thu thập, giao nộp chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đúng qui định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Ngày 18/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 28/4/2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng qui định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và viện kiểm sát đúng qui định của pháp luật.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng và đầu đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo qui định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về việc giải quyết vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến trình bày của đương sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L, cụ thể:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Trần Văn Lâm ly H với bà Nguyễn Thị Kim L1;
  • - Về con chung: Giao con chung tên Trần Nguyễn Đăng K và Trần Nguyễn Ngọc B cho bà L1 trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục; ông L cấp dưỡng nuôi con mỗi con mỗi tháng 2.500.000 đồng cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung: Ông L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Ông L xác định không có;

Án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng: Ông L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn ông Trần Văn L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L1; bà L1 cư trú tại địa chỉ số C B, khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Do đó, căn cứ Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn ông L tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Bị đơn bà L1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L1.

Đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng khác, người làm chứng nên Hội đồng xét xử không triệu tập người tham gia tố tụng khác, người làm chứng.

[3] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn:

[4.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 75/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 10/7/2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông L, bà L1 là hợp pháp.

Nguyên đơn ông L cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng, giữa ông và bà L1 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã do cả hai không tìm được tiếng nói chung về nơi sinh sống và tổ chức đời sống chung vợ chồng. Cả hai đã tìm nhiều cách nhưng không giải quyết được và đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Ông L xác định ông không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với bà L1 nữa nên ông yêu cầu Tòa án cho ông ly hôn với bà L1.

Bị đơn bà L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà L1 không đến Tòa án để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa. Điều này cho thấy, bà L1 không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng. Bà L1 cũng không cung cấp cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ nào thể hiện tình trạng mâu thuẫn vợ chồng mà ông L trình bày là không đúng

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định trong quá trình chung sống vợ chồng giữa ông L, bà L1 có phát sinh mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng. Tuy là vợ chồng nhưng giữa ông L, bà L1 không sống chung, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông L yêu cầu được ly hôn với bà L1 là có cơ sở chấp nhận.

[4.2] Về con chung: Theo trình bày của đương sự phù hợp với nội dung Giấy khai sinh số 102/2015 do Ủy ban nhân phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2015 (BL 31) và Trích lục khai sinh số 226/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/5/2019 (BL 30) có cơ sở xác định: Ông L, bà L1 có 02 con chung là Trần Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/4/2015 và Trần Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 28/4/2019.

Ông L yêu cầu giao 02 con chung trên cho bà L1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và ông cấp dưỡng nuôi con mỗi con mỗi tháng 2.500.000 đồng kể từ khi bản án quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng ông L tự giao nhận cho bà L1 vào ngày 05 dương lịch hàng tháng.

Hội đồng xét xử xét: Việc giao con cho ai nuôi là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con. Theo trình bày của ông L và kết quả xác minh của Công an phường B, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện nay hai con chung đang sống với bà L1. Do đó, để tránh xáo trộn, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như việc học tập của trẻ, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L: Giao con chung tên Trần Đăng K và Trần Nguyễn Ngọc B cho bà L1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo ông L trình bày từ trước đến nay ông vẫn đóng tiền học cho trẻ K, trẻ B và phụ bà L1 thêm 3.000.000 đồng tiền ăn cho các con, tổng cộng mỗi tháng khoảng 8.000.000 đồng. Tuy nhiên do hiện nay công việc khó khăn, thu nhập bị giảm sút, ông còn mẹ già phải chăm lo nên ông L đề nghị cấp dưỡng nuôi mỗi con mỗi tháng 2.500.000 đồng, tổng cộng là 5.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử nhận thấy mức cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/con/tháng mà ông L đưa ra là phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của ông L theo hợp đồng lao động và trình bày của ông L tại phiên tòa cũng như nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng.

Mặt khác, Tòa án đã có văn bản yêu cầu bà L1 có ý kiến và cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc cấp dưỡng mà ông L đưa ra nhưng Tòa án không nhận được ý kiến, tài liệu giấy tờ do bà L1 cung cấp liên quan đến việc cấp dưỡng nêu trên. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L việc cấp dưỡng nuôi con như trên.

Về tài sản chung: Ông L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Ông L xác định không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng và án phí liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 5 và khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ông Trần Văn Lâm ly H bà Nguyễn Thị Kim L1.

Giấy chứng nhận kết hôn số 75/2014 quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cấp ngày 10/7/2014 cho ông Trần Văn L, bà Nguyễn Thị Kim L1 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Nguyễn Đăng K (sinh ngày 13/4/2015) và Trần Nguyễn Ngọc B (sinh ngày 28/4/2019) cho bà Nguyễn Thị Kim L1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Trần Văn L cấp dưỡng nuôi con mỗi con mỗi tháng 2.500.000 đồng bắt đầu từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung lần lượt đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự giao nhận với nhau vào ngày 05 dương lịch hàng tháng.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Kim L1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng ông L còn phải chịu khoản lãi đối với số tiền cấp dưỡng chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Ông L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Ông L xác định không có.

5. Về án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn: Ông Trần Văn L phải chịu án phí sơ thẩm 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0083582 ngày 13/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L đã nộp đủ án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Án phí sơ thẩm đối với liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng ông Trần Văn L phải chịu, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP Thủ Đức;
  • - UBND X. Mỹ Hạnh Nam, H. Đức Hòa, T. Long An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1528/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1528/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông L yêu cầu ly hôn bà L1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger