|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1527/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/8/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
2. Bà Bùi Thị Hòa Bình
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Mỹ Linh - Thư ký Toà án nhân dân
quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên
toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 0544/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 499/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt)
Cư trú: Ấp A, tổ G và 8, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Hồ Thị Xuân P, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt)
Cư trú: 212/11 Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 14/08/2023, bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày: Năm 2013, ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị Xuân P tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Đ, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, tuy nhiên ông L đã làm thất lạc bản chính giấy chứng nhận kết hôn nên nộp cho Tòa án bản sao trích lục kết hôn số 335/TLKH-BS ngày 21/6/2023. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, từ năm 2016 đến nay cuộc sống gia đình có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau kéo dài vài tháng, sau đó hòa giải nói chuyện lại, nhưng lại tiếp tục gây gổ. Mặc dù ông L đã nhiều lần khuyên giải để giữ hạnh phúc gia đình nhưng bà Phước vẫn không thay đổi tính tình. Ông L đến nhà em ruột ở ấp A, tổ G và 8, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và ly thân với bà Phước từ năm 2019 cho đến nay. Nay ông L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không còn tình cảm với bà Phước nữa, ông L xin ly hôn với bà Hồ Thị Xuân P để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Hồ Hoàng P1, sinh ngày 09/7/2013. Trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1 hiện nay đang sinh sống cùng mẹ Hồ Thị Xuân P tại địa chỉ số B Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, nên ông L đồng ý bà Phước tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1. Ông L cấp dưỡng nuôi trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1 mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn - bà Hồ Thị Xuân P:
Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã tiến hành triệu tập hợp lệ đến Tòa để làm bản khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn: Ngày 19/7/2024 ông Nguyễn Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với bị đơn bà Hồ Thị Xuân P; Về con chung: Ông L đồng ý giao cho bà Hồ Thị Xuân P là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1, ông L cấp dưỡng nuôi con chung trẻ P1 mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành. Tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: không có.
Bị đơn: Ngày 23/7/2024, bà Phước có gửi đến Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh bản tự khai thể hiện: “Bà Phước và ông Nguyễn Văn L kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2013 Quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường Đ, quận A cấp ngày 21/03/2013. Hiện tại bà Phước được biết ông L đã nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà tại Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh. Bà Phước nhận thấy hiện nay do điều kiện hoàn cảnh nên không thể tiếp tục sống chung và bà Phước và ông L cũng không còn tình cảm với nhau. Từ những lý do trên cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà và ông L không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Phước đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của ông L; Về con chung: Bà P2 và ông L có một con chung là trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1, sinh năm 2013. Nay bà Phước cũng thống nhất với ông L là bà Phước sẽ nuôi con và ông L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi con trưởng thành; Về tài sản chung: không có tài sản chung; Về nợ chung: không có nợ chung.
Do bà Phước không thể sắp xếp thời gian và công việc để tham gia giải quyết vụ án, vì vậy tôi đề nghị Tòa án Nhân dân quận Bình Thạnh không thực hiện thủ tục hòa giải giữa bà với ông L đồng thời cho bà Phước được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và xét xử vụ án. Bà Phước công nhận đã hiểu trình tự, thủ tục tố tụng của vụ án này. Đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đồng ý cho bà Phước và ông L ly hôn theo quy định pháp luật”.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này, thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể: Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định của Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L; Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1, sinh ngày 09/7/2013 cho bà Phước nuôi dưỡng, ông L cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L phải đóng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị Xuân P là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại quận B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 19/7/2024 ông Nguyễn Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Ngày 23/7/2024, bà Hồ Thị Xuân P có gửi đến Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh bản tự khai và đề nghị xét xử vắng mặt. Việc nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ Trích lục kết hôn số 335/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/6/2023 thể hiện ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị Xuân P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh số 32 ngày 05/3/2013, như vậy hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn L và bà Hồ Thị Xuân P là hợp pháp.
Nay nguyện vọng của ông L muốn ly hôn với bà Phước. Hội đồng xét xử xét: Hôn nhân là việc nam nữ tự nguyện thương yêu và xây dựng hạnh phúc gia đình trong đó cả hai cùng chung tay vun đắp cho hạnh phúc chung, tin tưởng và cùng nhau vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Sau khi kết hôn ông L và bà Phước có cuộc sống hạnh phúc, tuy nhiên từ năm 2016 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do lối sống không hợp nhau không còn tiếng nói chung. Ông L và bà Phước đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không thể hàn gắn được. Nay ông L xác nhận tình cảm vợ chồng đã hết không thể đoàn tụ được nữa. Ông L yêu cầu được ly hôn với với bà Hồ Thị Xuân P để ổn định cuộc sống. Đồng thời, bà Hồ Thị Xuân P đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông L và bà Phước mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về con chung:
Căn cứ vào Bản sao Giấy khai sinh số 223 do Ủy ban nhân dân phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/7/2023 cho trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1, sinh ngày 09/7/2013 thể hiện cha là ông Nguyễn Văn L và mẹ là bà Hồ Thị Xuân P, như vậy có cơ sở xác định giữa ông L và bà Phước có một con chung là trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1, sinh ngày 09/7/2013. Hiện nay trẻ P1 đang ở với bà Phước, ông L và bà Phước đều thống nhất bà Phước là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con trưởng thành. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thống nhất việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của ông L và bà Phước.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn L được ly hôn với bà Hồ Thị Xuân P.
1.2 Về con chung: Giao bà Hồ Thị Xuân P là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1, sinh ngày 09/7/2013. Ông L cấp dưỡng nuôi trẻ P1 mỗi tháng là 2.000.000 đồng, bắt đầu thi hành từ tháng 8/2024 cho đến khi con trưởng thành.
Kể từ ngày bà Phước có quyền yêu cầu thi hành án, nếu ông L chưa cấp dưỡng khoản tiền nuôi con theo quy định thì ông L phải chịu thêm tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền về thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.
Ông Nguyễn Văn L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung trẻ Nguyễn Hồ Hoàng P1. Không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
2. Về án phí:
2.1 Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0018825 ngày 18/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
2.2 Ông L phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 1527/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1527/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
