|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1523/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/04/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Đăng Vạn
- Ông Cao Quốc Hưng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 3081/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1401/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 1957/2024/QĐHPT-HN ngày 09 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc H, sinh năm: 1967
- Bị đơn: Ông Phan Văn H1, sinh năm: 1956
Địa chỉ: Số nhà E Đường C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
Địa chỉ: 9, Đường A, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc H trình bày:
Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T (quận T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh theo số 12/2008 ngày 24/01/2008. Cuộc sống hôn nhân lúc đầu bình thường nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do chồng cờ bạc hay ghen tuông, không tôn trọng bà H, tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân là không đạt được.
Do đó bà Phạm Thị Ngọc H đề nghị Tòa án nhân dân giải quyết những vấn đề sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 Ly hôn; Về con chung: Không có; Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn H1; Về con chung: Không có; Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Phan Văn H1 cho rằng: Gần đây ông xuất hiện bệnh tật, tuổi tác đã cao, không có con cái, chỉ có vợ là điểm tựa cuối cùng nên ông H1 không đồng ý ly hôn. Về con chung: Không có; Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng, xác minh, thu thập chứng cứ, cấp, tống đạt văn bản tố tụng, thời hạn tố tụng. Về nội dung, do quan điểm sống giữa nguyên đơn và bị đơn quá khác biệt, nguyên đơn đã không còn mong muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Không có; Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 kết hôn với nhau năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T (quận T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2008 ngày 24/01/2008. Nay bà Phạm Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn H1, nên đây là quan hệ tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 đều có quốc tịch Việt Nam. Qua lời khai của bị đơn tại bản tự khai ngày 27/02/2024, tại phiên tòa hôm nay, xác định được bị đơn là ông Phan Văn H1 hiện đang cư trú trên địa bàn thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Nội dung tranh chấp:
- Nguyên đơn xác định bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 kết hôn với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T (quận T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2008 ngày 24/01/2008. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất hòa; Đến những năm gần đây thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng và 02 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nguyên nhân mâu thuẩn là trong quá trình sinh sống, hai bên không có tiếng nói chung, thường xảy ra xích mích với những nguyên nhân nhỏ nhặt trong cuộc sống.
Ngoài ra, hai bên không có sự tôn trọng lẫn nhau, chia sẽ, giúp đở nhau trong quá trình chung sống và đặc biệt những lúc khó khăn, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Dù mọi người trong gia đình và người thân đã khuyên ngăn và hòa giải, nhưng hai vợ chồng vẫn không thể quay lại cuộc sống hòa thuận, vun đắp như ban đầu.
Bị đơn ông Phan Văn H1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn có mặt và không đồng ý ly hôn. Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không có và nợ chung: Không có.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 trên thực tế có xảy ra mâu thuẫn do tính cách và quan điểm sống của bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 quá khác biệt nên thường xuyên cãi vã, gây gổ làm cho cuộc sống hôn nhân mất hạnh phúc. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 đã rạn nứt không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Bị đơn không đồng ý ly hôn với lý do: Gần đây ông xuất hiện bệnh tật, tuổi tác đã cao, không có con cái, chỉ có vợ là điểm tựa cuối cùng, nhưng ông H1 không nêu ra được chứng cứ bị bệnh và hướng giải quyết mâu thuẫn trong sự khác biệt nhau giữa vợ chồng về quan điểm sống và các mặt khác của đời sống chung vợ chồng.
- - Về con chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét.
- - Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét.
- - Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc H với ông Phan Văn H1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2008 ngày 24/01/2008 do Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T (quận T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Phạm Thị Ngọc H và ông Phan Văn H1 không còn giá trị pháp lý.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Phạm Thị Ngọc H chịu án phí sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà Phạm Thị Ngọc H đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0001483 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Phạm Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Dũng |
Bản án số 1523/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1523/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
