TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 152/2024/HS-PT Ngày: 31/8/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh
Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Ông Trần Hữu Vinh
Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trần Công M, do có kháng cáo của bị cáo Trần Công M và đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Quang H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo:
TRẦN CÔNG M, sinh ngày xx/xx/20xx tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú:
Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Q và bà Lê Thị Thúy H1; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Lê Quang H2, sinh năm 2005; (Đã chết)
* Người đại diện của anh Lê Quang H2: ông Lê Quang H, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hồ Văn M1, sinh năm 2005; Nơi cư trú: Tổ D, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Chị Lê Phương U, sinh năm 2008; Nơi cư trú: K T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của chị Lê Phương U: Ông Lê Văn H3, sinh năm 1975; Nơi cư trú: K T, quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
- Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2008; Nơi cư trú: 1 T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Thành Đ: Bà Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1981; Nơi cư trú: 1 T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
- Ông Đào Duy M2, sinh năm 1993; Nơi cư trú: I L, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 12/8/2023, Trần Công M (không có Giấy phép lái xe hạng A1) mượn xe mô tô nhãn hiệu Exciter BKS: 43E1-1xx.xx của anh Đào Duy Mạnh chở Lê Quang H2 đi ăn sáng và mua đồ dùng cá nhân. Trần Công M điều khiển xe mô tô chở anh H2 lưu thông trên đường L, phường M, quận N hướng từ Nam ra B (cả 02 đều không đội mũ bảo hiểm). Khi đến khu vực ngã tư giao nhau với đường H (đường giao nhau đồng cấp, có bảng giới hạn tốc độ 30km/h), M không chú ý quan sát nên đã tông vào mặt ngoài sàn để chân trước bên trái của xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS: 43D2-0xx.xx do Hồ Văn M1 (không có Giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển chở theo sau là Lê Phương U và Nguyễn Thành Đ lưu thông trên đường H theo hướng từ Đông sang T (M1 và U có đội mũ bảo hiểm, riêng Đ ngồi sau cùng không đội mỹ bảo hiểm) đã điều khiển xe vào khu vực giao nhau trước làm 02 xe ngã xuống đường.
Hậu quả: Lê Quang H2 bị thương được đưa đi cấp cứu, đến ngày 13/8/2023 thì tử vong tại bệnh viện. Hồ Văn M1, Lê Phương U và Nguyễn Thành Đ bị xây xát ngoài da. Hai xe mô tô bị hư hỏng.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô BKS: 43D2-0xx.xx và 01 xe mô tô BKS: 43E1-1xx.xx;
- - 01 đĩa DVD chứa 02 file video ghi lại diễn biến vụ tai nạn xảy ra từ 04 giờ 49 phút 45 giây đến 04 giờ 50 phút 51 giây ngày 12/8/2023.
* Tại Kết luận giám định số 832/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận:
- Dấu vết va chạm trên phương tiện cần giám định:
- - Xe mô tô BKS: 43E1-1xx.xx có các dấu vết sau:
- + Vết 1: Vết trầy xước, rách mất su tại má lốp bên phải của bánh xe trước, kích thước 15x5cm. Chiều hướng vết từ mặt lăn vào tâm, ngược chiều tiến bánh xe. Vết trầy xước kim loại tại mặt bên phải vành bánh xe trước, kích thước 8x1,5cm. Chiều hướng vết từ tâm ra mặt lăn. Vết lệch trục trái sang phải.
- + Vết 2: Vết trầy xước sơn màu xanh kèm bám dính chất màu đen tại mặt ngoài bên phải cung trước chắn bùn bánh xe trước, các đất 47cm, kích thước 7x4cm. Chiều hướng vết từ trước ra sau, lên trên.
- - Xe mô tô BKS: 43D2-0xx.xx có các dấu vết sau:
- + Vết 1: Vết trầy xước nhựa kèm bám dính chất màu đen tại mặt ngoài ốp nhựa dưới sàn để chân trước bên trái, cách đất 26cm, kích thước 4,5x5cm. Chiều hướng vết từ trái sang phải, xuống dưới. Vết nứt, vỡ nhựa tại sàn để chân trước bên trái, cách đất 29cm, kích thước 16x7cm. Chiều hướng vết từ trái sang phải, lên trên.
- + Vết 2: Vết trầy xước decal, nhựa màu đen kèm bám dính chất màu xanh tại mặt ngoài sàn để chân trước bên trái, cách đất 31cm, kích thước 5,5x2cm. Chiều hướng vết từ trái sang phải, xuống dưới.
- Cơ chế hình thành dấu vết:
- - Vết 1 trên xe mô tô BKS: 43E1-1xx.xx hình thành phù hợp do má lốp bên phải và mặt bên phải vành bánh xe trước của xe này va chạm tại mặt ngoài ốp nhựa dưới sàn và sàn để chân trước bên trái của xe mô tô BKS: 43D2-0xx.xx đồng thời tạo nên vết 1 trên xe mô tô BKS: 43D2-0xx.xx.
- - Vết 2 trên xe mô tô BKS: 43E1-1xx.xx hình thành phù hợp khi xe này ngã nghiêng sang phải thì mặt ngoài bên phải cung trước chắn bùn bánh xe trước của xe va chạm với mặt ngoài sàn để chân trước bên trái của xe mô tô BKS: 43D2-0xx.xx đồng thời tạo nên vết 2 trên xe mô tô BKS: 43D2-0xx.xx.
* Tại Kết luận giám định số 2142/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Không xác định được tốc độ của xe mô tô gắn BKS: 43D2-0xx.xx và xe mô tô BKS: 43E1-1xx.xx trước thời điểm xảy ra tai nạn.”
* Tại Kết luận giám định tử thi số 96/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 04/10/2023 của Trung tâm pháp y thành phố Đ kết luận: “Nguyên nhân tử vong của anh Lê Quang H2: Chấn thương sọ não nặng/Hôn mê sâu, suy hô hấp, trụy tim mạch, ngừng thở, ngừng tim, tử vong.”
* Tại Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô Y nhãn hiệu Exciter BKS: 43E1-1xx.xx là 3.600.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe mô tô H4 nhãn hiệu Airblade BKS: 43D2-0xx.xx là 4.700.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại tài sản định giá là 8.300.000 đồng.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công M 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 10/5/2024, bị cáo Trần Công M và ông Lê Quang H (là đại diện của bị hại Lê Quang H2) cùng có đơn kháng cáo. Bị cáo M kháng cáo với nội dung: Xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với bị cáo. Ông H kháng cáo với nội dung: Đề nghị xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Công M và xem xét trách nhiệm của Hồ Văn M1, Lê Phương U và Nguyễn Thành Đ trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện bị hại ông Lê Quang H thay đổi nội dung đơn kháng cáo, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo M được hưởng án treo.
Bị cáo Trần Công M thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu và kết luận; bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được tại ngoại lao động phụ giúp gia đình bị cáo và gia đình bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn luật định nên đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung kháng cáo:
Xét Bản án sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xét xử bị cáo Trần Công M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đồng thời đã xem xét một cách khách quan toàn diện diễn biến vụ tai nạn, xác định lỗi, cũng như đã xem xét về điều kiện hoàn cảnh gia đình và nhân thân của bị cáo, trên cơ sở đó xử phạt bị cáo mức hình phạt 15 tháng tù là phù hợp, không nặng. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 12/8/2023, Trần Công M (không có Giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter BKS: 43E1-1xx.xx chở theo Lê Quang H2 (cả hai đều không đội mũ bảo hiểm) lưu thông trên đường L (hướng từ N ra B), khi đến khu vực ngã tư giao nhau với đường H (thuộc phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng), do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức tối thiểu để có thể dừng lại một cách an toàn nên má lốp bên phải và mặt bên phải vành bánh xe trước của xe do Trần Công M điều khiển tông vào mặt ngoài sàn để chân trước bên trái của xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS: 43D2-0xx.xx do anh Hồ Văn M1 (không có Giấy phép lái xe hạng A1) chở theo Lê Phương U, Nguyễn Thành Đ làm 02 xe ngã xuống đường. Anh Lê Quang H2 được đưa đi cấp cứu nhưng đến ngày 13/8/2023 thì tử vong tại bệnh viện.
Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Công M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe theo quy định” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2]. Xét các nội dung kháng cáo của bị cáo và đại diện bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Trần Công M là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi không có Giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính về giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc bị hại Lê Quang H2 tử vong. Do đó, cần xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp, để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất vụ án, đã xem xét một cách khách quan, toàn diện diễn biến vụ việc tai nạn, hậu quả, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo Trần Công M được hưởng; qua đó xử phạt bị cáo 15 tháng tù có là cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Trần Công M bổ sung tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện đang khó khăn, bị cáo và gia đình đang trực tiếp chăm lo cho ông nội của bị cáo là ông Trần L, đang điều trị ung thư với chi phí điều trị cao, nội dung đơn được Ủy bản nhân dân xã N xác nhận. Bên cạnh đó, ông Lê Quang H (đại diện hợp pháp của bị hại Lê Quang H2) tiếp tục có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo M do sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo và gia đình đã có trách nhiệm và ăn năn về hành vi của bị cáo, thường xuyên đến thăm hỏi và phụ giúp gia đình bị hại, đồng thời hỗ trợ 100.000.000 đồng chi phí mai táng cho anh H2 và tổn thất tinh thần của gia đình ông; trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo tiếp tục hỗ trợ thêm số tiền 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lê Quang H tha thiết đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của cả 02 gia đình cũng như mối quan hệ gắn bó giữa gia đình bị cáo và gia đình ông, qua đó giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo M được hưởng án treo.
Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo tuổi đời còn nhỏ, thực hiện hành vi phạm tội khi chỉ vừa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức pháp luật vẫn còn hạn chế; hiện nay hoàn cảnh gia đình của bị cáo có khó khăn, bị cáo là lao động phụ giúp cho gia đình, được chính quyền địa phương xác nhận; sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã chủ động thăm hỏi, thường xuyên động viên, hỗ trợ gia đình bị hại, được cha và mẹ của bị hại nhiều lần tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Công M và đại diện hợp pháp của bị hại Lê Quang H2, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều để bị cáo sớm quay trở về với xã hội, lao động, học tập để trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét trong vụ án này, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, làm 01 người chết, nên cần xử phạt hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội; Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Công M và đại diện bị hại ông Lê Quang H.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1.1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Công M và ông Lê Quang H (đại diện hợp pháp của bị hại Lê Quang H2), sửa bản án sơ thẩm.
1.2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Công M: 09 (Chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
II. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Trần Công M và ông Lê Quang H (đại diện hợp pháp của bị hại Lê Quang H2) không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký và đóng dấu Bùi Trọng Danh |
Bản án số 152/2024/HS-PT ngày 31/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 152/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 12/8/2023, Trần Công M (không có Giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter BKS: 43E1-1xx.xx chở theo Lê Quang H2 (cả hai đều không đội mũ bảo hiểm) lưu thông trên đường L (hướng từ N ra B), khi đến khu vực ngã tư giao nhau với đường H (thuộc phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng), do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ đến mức tối thiểu để có thể dừng lại một cách an toàn nên má lốp bên phải và mặt bên phải vành bánh xe trước của xe do Trần Công M điều khiển tông vào mặt ngoài sàn để chân trước bên trái của xe mô tô nhãn hiệu Airblade BKS: 43D2-0xx.xx do anh Hồ Văn M1 (không có Giấy phép lái xe hạng A1) chở theo Lê Phương U, Nguyễn Thành Đ làm 02 xe ngã xuống đường. Anh Lê Quang H2 được đưa đi cấp cứu nhưng đến ngày 13/8/2023 thì tử vong tại bệnh viện.
