Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/DS-PT

Ngày: 28/9/2024

Về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quý My;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và bà Nguyễn Thị Thủy.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thủy Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Thị Hương Giang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2023/TLPT - DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 52/QĐPT - DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Xuân M, sinh năm 1952, (Có mặt);

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh N, luật sư, văn phòng L2, đoàn luật sư tỉnh T, (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Công Q – Luật sư, văn phòng L3, đoàn luật sư tỉnh T,

Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T. (Có mặt).

Bị đơn: Ông Dương Văn D, sinh năm 1963, (Có mặt).

Đều cư trú tại: Xóm T, xã T, Thành phố P, Thái Nguyên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - UBND Thành phố P:
  • Người được ủy quyền ông Dương Văn D1; Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường Thành phố P, (Vắng mặt);
  • - Bà Trần Thị D2, sinh năm 1954;
  • Ủy quyền cho ông Dương Xuân M, sinh năm 1952, (Có mặt);
  • - Bà Quan Thị H, sinh năm 1956;
  • Ủy quyền cho ông Dương Văn D, sinh năm 1955, (Có mặt);
  • Đều địa chỉ: Xóm T, xã T, TP P, Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai và bản án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Dương Xuân M trình bày:

Năm 1987 theo chủ trương của HTX N1, huyện P (nay là thành phố P) chia ruộng đất theo nhân khẩu của xã viên HTX đối với ruộng chân cao để gieo mạ và trồng rau gối vụ, theo đó gia đình ông được chia 5 thước (120m²); Gia đình ông Dương Văn L được chia 4 thước (96m²).; Gia đình ông Dương Tùng B được chia 03 thước (72m²). Toàn bộ diện tích đất ruộng này đều trong thửa đất số 378 tại khu xứ đồng La Kham, tờ bản đồ số 62, đất đã được ghi vào sổ thuế sử dụng đất nông nghiệp. Gia đình ông đã sử dụng ổn định không tranh chấp với ai, hàng năm vẫn thực hiện nghĩa vụ tài chính đầy đủ. Năm 1989 địa phương tổ chức đo đạc lại diện tích đất của các hộ dân trong xã trong đó có gia đình ông, tất cả các gia đình không có gì thay đổi về diện tích đất đang được sử dụng, do trồng cây không có hiệu quả nên gia đình tôi đã trồng cây công nghiệp trên diện tích đất được HTX chia năm 1987 thì gia đình ông Dương Văn D ra cản và nhổ hết cây cối trên thửa đất trên. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông D trả lại toàn bộ thửa đất trên nhưng ông D không đồng ý.

Nay, ông M yêu cầu Tòa án buộc ông Dương Văn D phải trả lại cho ông 120 m² đất tại thửa đất số 378, tờ bản đồ số 62 tại xứ L, xã T, Tp P, tỉnh Thái Nguyên (Đất nông nghiệp); Hủy một phần GCN QSDĐ do UBND huyện P (nay là TP P) đã cấp cho ông Dương Văn D năm 1994.

Bị đơn ông Dương Văn D trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của Hợp tác xã T chia cho các hộ dân năm 1979 (trước đây chỉ là xóm T, nay mới tách thành T, T,); đất tranh chấp thuộc T, thửa 378, tờ bản đồ số 62, diện tích đo năm 1989 (bản đồ 299) khi đó là 271m², Hợp tác xã T1 khi đó có chia cho ông M, ông L, ông Dương Tùng B, sinh năm 1944 cùng xóm được chia diện tích đất tại thửa 378, còn ông D không được chia; Loại đất bãi cao, gia đình ông có đất xung quanh ở đó sát thửa 378, cụ thể giáp đất của ông 3 phía, còn một phía giáp đường, sau đường đi của xóm lại là đất của ông. Sau khi ông M được chia thì ông M có canh tác khoảng 1 năm sau đó ông M bán, hay bỏ hoang hoặc cho ông L hay không ông không biết, ông M không làm nữa, còn ông L canh tác đến năm 1987 thì ông L bán cho ông cả phần ông M, ông L có đơn nói rõ bán cả phần đất ông M khi đó ông M cũng không có ý kiến gì (ông trả ông L bằng gạch để ông L lấy gạch xây nhà là 500 viên gạch đỏ). Phần của ông B thì ông B cho ông Đ (ông Đ đã chết năm 2007), bà L1, ông đổi đất của ông với bà L1 lấy phần đất mà ông B cho bà L1, ông sử dụng từ đó đến năm 1989 đo đạc bản đồ và xác định là thửa 378, diện tích 271m² (trước năm 1989 có số thửa hay không ông không biết) xác định là thửa đất của ông từ đó. Năm 1994 ông được UBND huyện P (Nay là Thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi kê khai và cấp không có tranh chấp, ông L, ông M cũng không có ý kiến gì. Năm 2018 ông có đơn chuyển toàn bộ 1051m², trong đó có thửa 378, diện tích 271m² sang trồng cây lâu năm thì đã có biên bản thẩm định và có quyết định của UBND thị xã P (nay là TP P) cho phép ông được xây tường bao, đổ mặt bằng. Đến năm 2019 ông M vào nhà ông bảo trả ông M ít tiền, nhưng ông không đồng ý vì ông đã

mua với ông L, khi đó ông M mới khởi kiện ông và xẩy ra tranh chấp. Phần diện tích mà ông M khởi kiện và đòi mà ngày 22/02/2023 thẩm định, ông M xác định vị trí tranh chấp là không đúng, mà phần diện tích ông M được chia là giáp đất bà L1, nay bà L1 đã xây một phần, phần ông M chỉ là diện tích tranh chấp là phần của ông L được chia, còn phần của ông L chỉ là của ông B mà ông đổi với bà L1. (ông M nói với mọi người đòi đây song lại khởi kiện đòi đất ao, đất bãi nhà ông)

Nay ông M đề nghị ông D trả lại đất ông không nhất trí, ông D đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên giải quyết, đất của ông đã được nhà nước giao, cấp quyền sử dụng nên gia đình ông quản lý, sử dụng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà B1 Trần Thị D2 khai, nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Quan Thị H khai, nhất trí với lời trình bày của bị đơn.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

Căn cứ Điều 26; 35; 39; 147; 157; 165; 166; 244; 266; 235 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 4; khoản 2 Điều 5; Điều 97; 99; 100; 101; khoản 2 Điều 105; khoản 1, khoản 5; Điều 166; Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Xuân M đối với bị đơn ông Dương Văn D, tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 62, diện tích 97,9m² xứ L, xã T, huyện P (N là thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, mà ông Dương Văn D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0083703, vào sổ cấp số 00850/QSDĐ ngày 09 tháng 6 năm 1994, (ngày 11/12/2018 số thửa 271 có sai sót được đính chính lại tại thửa 378, tờ bản đồ số 62 theo biên bản xác minh ngày 03/12/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký Đất đai thị xã P).

    (có sơ đồ thửa đất tranh chấp kèm theo).

    Đối với yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện P (nay là Thành phố P) đã cấp cho ông Dương Văn D thửa đất số 378, tờ bản đồ số 62 tại X, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên không có căn cứ chấp nhận.

  2. Về án phí và chi phí tố tụng
    • *Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Dương Xuân M.
    • *Về chi phí tố tụng: Ông Dương Xuân M phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng tiền chi phí tố tụng) đã thu của ông M và đã chi phí hết.

    (Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Ngoài ra bản án còn xử lý về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 11/10/2023 Ông Dương Xuân M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 26/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như nêu trên;

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, buộc ông Dương Văn D phải trả 97,9 m² đất tại tờ bản đồ 62, thửa 378 cho ông Dương Xuân M.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra công khai tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về quan hệ pháp luật giải quyết: Theo đơn khởi kiện ông Dương Xuân M yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Dương Văn D, căn cứ yêu cầu khởi kiện được Tòa án thụ lý giải quyết vụ án với quan hệ giải quyết là tranh chấp quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự. Trong vụ án này, đối tượng tranh chấp là bất động sản (đất) tại xã T, TP ., tỉnh Thái Nguyên nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng.
  • - Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn, phù hợp quy định tại điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung:

Về nguồn gốc đất tranh chấp quá trình giải quyết vụ án xác định được như sau: Diện tích đất tranh chấp là một phần đất thuộc thửa đất số 378 tại khu xứ đồng La Kham, xã T, Thành phố P, thuộc tờ bản đồ số 62, được UBND huyện P (nay là Thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/09/1994 diện tích 271m² đất nông nghiệp cho ông D.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định: Quá trình giải quyết vụ án ông M cho rằng diện tích đất tranh chấp là do gia đình được chia năm 1987

theo chủ trương của HTX N1, huyện P (nay là Thành phố P) chia ruộng đất theo nhân khẩu của xã viên HTX đối với ruộng chân cao để gieo mạ và trồng rau gối vụ, theo đó gia đình ông được chia 5 thước (khoảng120m²); Gia đình ông đã sử dụng ổn định không tranh chấp với ai, hàng năm vẫn thực hiện nghĩa vụ tài chính đầy đủ. Năm 1989 địa phương tổ chức đo đạc lại diện tích đất của các hộ dân trong xã trong đó có gia đình ông, tất cả các gia đình không có gì thay đổi về đất đang được sử dụng, do trồng cây không có hiệu quả nên gia đình ông đã trồng cây công nghiệp trên diện tích đất được HTX chia năm 1987 thì gia đình ông Dương Văn D ra cản và nhổ hết cây cối trên thửa đất trên. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông D trả lại toàn bộ thửa đất trên nhưng ông D không đồng ý, gia đình chưa thực hiện các thủ tục kê khai để cấp quyền sử dụng diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của gia đình.

Qua thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án, tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ diện tích đất tranh chấp giữa ông M và ông D tại thửa đất số 378 tại khu xứ đồng La Kham, tờ bản đồ số 62, diện tích tranh chấp là 97,9 m², trị giá 63.000/1m² x 97,9 m² = 6.167.700 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, xác định ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng không có tài liệu chứng minh sau khi được Hợp tác xã chia đất ông M bỏ canh tác không sử dụng. Tòa án cấp phúc thẩm đã phải tạm ngừng phiên tòa yêu cầu U và Văn phòng Đ cung cấp bổ sung tài liệu hồ sơ và trả lời bằng văn bản cho Tòa án cấp phúc thẩm để làm rõ căn cứ cấp quyền sử dụng đất và trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai là đúng.

  • - Tại công văn số 474/CV-VPĐKPY ngày 04/7/2024 của chi nhánh văn phòng Đ xác định không có hồ sơ lưu trữ.
  • - Tại công văn số 2504/UBND-TNMT ngày 29/9/2024 của U xác định: Diện tích đất tranh chấp là thửa 378, tờ bản đồ 62 (F48-92-D-c-20-I), diện tích 271m2, loại đất ghi trên bản đồ địa chính là ĐM.

Qua xác minh hồ sơ địa chính với hộ ông Dương Xuân M xác định diện tích đất nêu trên được Hợp tác xã chia cho từ những năm 1985, gia đình chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hàng năm vẫn dùng để gieo mạ, về sau này ông D đòi lại không cho gia đình canh tác.

Đối với hộ ông Dương Xuân D3 dược UBND H. PhổYên cấp GCN quyền sử dụng đất ngày 09/6/1994, trong đó có thửa 271, diện tích 271 m2, tờ bản đồ 62; Đến ngày11/12/2028 đã được đính chính lại là thửa 378, tờ bản đồ 62, diện tích 271m2 (BL: 127).

Quan điểm của U về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

  1. Diện tích 96 m2 tại vị trí đồng L4 đã cấp QSD đất cho ông Dương Văn M1 tại thửa 378, TBĐ 62 tại Xã T, TP P. Thửa 378 nêu trên có nguồn gốc năm 1987 HTX T1 chia cho ông M1 96m2, là đất trồng màu, đến năm 1994 diện tích đất này đã được vào sổ đất nông nghiệp và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 00835171 ngày 9/6/1994, (số vào số 01235/QSDĐ/111).

Việc U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời kỳ này do cá nhân kê khai, cấp xã đề nghị, để UBND cấp huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất.

  1. Việc ông Dương Văn D kê khai cả phần diện tích 96 m2 nêu trên của ông M1 để UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất số D 0083703 ngày 09/6/1994, (số vào sổ: 00850/QSDĐ111) trong đó có thửa 378, tờ bản đồ 62, diện tích 271 m2, là chưa đúng một phần nguồn gốc sử dụng đất, là có sự chồng lấn về vị trí thửa đất, diện tích đất và trùng một phần diện tích đất trên 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
  2. Diện tích 96 m2 tại xứ đồng La Kham đã cấp cho ông M1 và ông D nêu trên là có sự chồng lấn một phần về vị trí thửa đất và trùng một phần diện tích đất đã cấp trên hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

[4]. Đối với đề nghị của ông D, ông D thừa nhận đất tranh chấp thuộc Thượng Vụ 1, thửa 378, tờ bản đồ số 62, diện tích đo năm 1989 (bản đồ 299) khi đó là 271m², hợp tác xã T1 khi đó có chia cho ông M1, ông L, ông Dương Tùng B, cùng xóm được chia diện tích đất tại thửa 378, còn ông D không được chia; Loại đất bãi cao, gia đình ông có đất xung quanh sát thửa 378, còn một phía của thửa 378 giáp đường, sau đường đi của xóm lại là đất của ông. Sau khi ông M1 được chia thì ông M1 có canh tác khoảng 1 năm sau đó ông M1 bán, hay bỏ hoang hoặc cho ông L hay không ông không biết, ông M1 không làm nữa, còn ông L canh tác đến năm 1987 thì ông L bán cho ông D phần của ông L, ông L có nói rõ bán cả phần đất ông M1, khi đó ông M1 cũng không có ý kiến gì (ông trả ông L bằng gạch để ông L lấy gạch xây nhà 500 viên gạch đỏ). Phần của ông B thì ông B cho ông Đ (ông đã chết năm 2007), bà L1, ông đổi đất của ông với bà L1 lấy phần đất mà ông B cho bà L1, ông D sử dụng từ đó đến năm 1989 đo đạc bản đồ và xác định là thửa 378, diện tích 271m² xác định là thửa đất của ông D trên bìa đỏ từ đó. Năm 1994 ông D được UBND huyện P (Nay là Thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 378, diện tích 271m², số D 0083703, vào sổ cấp số 00850/QSDĐ ngày 09 tháng 6 năm 1994, (ngày 11/12/2018 số thửa 271 có sai sót được đính chính lại tại thửa 378, tờ bản đồ số 62 theo biên bản xác minh ngày 03/12/2018 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã P, BL: 127), khi kê khai và cấp không có tranh chấp, ông L, ông M1 cũng không có ý kiến gì. Như vậy, các bên đương sự đều thừa nhận việc ông M1 được HTX chia cho khoảng 96m2 đất màu thuộc Thượng Vụ 1, thửa 378, tờ bản đồ số 62, diện tích đo năm 1989 (bản đồ 299) là đúng, còn ông D không có đất này, ông D không được chia đất, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS năm 2015.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên ra Yêu cầu chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, cung cấp cho Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên những tài liệu chứng cứ sau:

Hồ sơ do UBND huyện P (nay là Thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho ông Dương Văn D, tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 62, diện tích 271m2 xứ đồng Lá Kham, xã T, Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, số D 0083703, vào sổ cấp số 00850/QSDĐ ngày 09 tháng 6 năm 1994, (ngày 11/12/2018 số thửa 271 có sai sót được đính chính lại tại thửa 378, tờ bản đồ số 62 theo biên bản xác minh ngày 03/12/2018 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã P). Tại công văn số 751/CV-CNPY ngày 15 tháng 9 năm 2023 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cung cấp cho Tòa án nhân dân Thành phố Phổ Yên, đơn đăng ký biến động đất đai của ông D, tài sản gắn liền với đất ngày 22/11/2018; Qua kiểm tra, rà soát hệ thống quản lý hồ sơ điện tử, tra cứu hồ sơ lưu trữ chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai Thành phố P xác định không lưu hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành số D 0083703, vào sổ cấp số 00850/QSDĐ ngày 09 tháng 6 năm 1994 mang tên ông Dương Văn D, địa chỉ thửa đất xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bởi giai đoạn này các cá nhân tự kê khai, cấp xã đề nghị và cấp huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không lưu trữ.

Đến năm 2018 ông có đơn chuyển toàn bộ 1051m², trong đó có thửa 378, diện tích 271m² sang trồng cấy lâu năm, đổ mặt bằng sử dụng. Song tại công văn số 2504/UBND-TNMT ngày 27/9/2024 xác định: Diện tích 97,9m2 đang tranh chấp nêu trên là do cá nhân tự kê khai để UBND xã T đề nghị UBND huyện P (nay là TP P) cấp giấy chứng nhận QSD đất mang tên ông D là chưa đúng một phần nguồn gốc sử dụng đất, là có sự chồng lấn về vị trí thửa đất, diện tích đất và U cấp trùng một phần diện tích đất trên hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M1 và ông D nêu trên. Việc ông Dương Văn D kê khai cả phần diện tích tương đương 96 m2 nêu trên của ông M1 để UBND huyện cấp giấy chứng nhận QSD đất số D 0083703 ngày 09/6/1994,(số vào sổ: 00850/QSDĐ111) trong đó có thửa 378, tờ bản đồ 62, diện tích 271 m2, là chưa đúng một phần nguồn gốc sử dụng đất, là có sự chồng lấn về vị trí thửa đất, diện tích đất và trùng một phần di tích đất trên 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Diện tích tương đương 96 m2 tại xứ đồng Lá Kham đã cấp cho ông M1 và ông D nêu trên là có sự chồng lấn một phần về vị trí thửa đất và trùng một phần diện tích đất đã cấp trên hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm ông D không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh về nguồn gốc quyền sử dụng đất đối với diện tích 97,9 m2 đang tranh chấp là do đâu mà có để kê khai đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên không có căn cứ chấp nhận quan điểm của bị đơn. Do vậy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông M1 đối với quyền sử dụng đất 97,9m2 đang bị chồng lấn 1 phần về vị trí thửa đất và trùng một phần diện tích đất đã cấp cho ông D.

Do vậy, xác định diện tích tranh chấp qua thẩm định theo bản đồ địa chính là 97,9 m² thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông M1 nằm trong thửa 378, tờ bản

đồ 62, tại Xã T, TP P. Do đó cần sửa bản án sơ thẩm mới bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Đối với yêu cầu của ông Dương Xuân M trong quá trình giải quyết vụ án yêu cầu ông D trả lại 120m2 đất màu tại thửa 378, TBD 62 nằm trong diện tích 271 m2 trên giấy chứng nhận QSD đất của ông D, xét thấy trên giấy chứng nhận QSD đất của ông M thể hiện 96m2, qua xác minh thẩm định tại chỗ diện tích là 97,9m2, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu 120m2 của ông M.

Đối với yêu cầu của ông M về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Dương Văn D là không có căn cứ nên không được chấp nhận, trong trường hợp nếu có sai sót, chồng lấn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận có thẩm quyền quyết định điều chỉnh cho đúng quy định của pháp luật.

Đối với yêu cầu kháng cáo của ông M đề nghị hủy bản án sơ thẩm, nhưng không đưa ra được căn cứ hủy bản án như đã phân tích phần trên, nên cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông M.

Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án thẩm giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung vì phiên tòa sơ thẩm vắng mặt luật sư, xét thấy như đã phân tích tại phần nhận định trên và việc vắng mặt luật sư nhưng không vắng mặt bị đơn, không mất quyền tham gia phiên tòa và đương sự đồng ý phiên tòa được diễn ra, không làm mất quyền lợi hợp pháp của đương sự, do vậy không có căn cứ hủy bản án sơ thẩm, việc hủy bản án mới gây ảnh hưởng đến các bên đương sự và kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết.

[5] Về án phí:

Do ông Dương Văn D là người cao tuổi, cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông D. Các bên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

Hoàn trả lại cho ông Dương Xuân M 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm

[6]. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Ông M nhận chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, đo đạc đất nên không đặt ra việc giải quyết tiếp.

[7]. Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 2 Điều 309; Điều 148; Điều 26; 35; 39; 147; 157; 165; 166; 244; 266; 235 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 4; khoản 2 Điều 5; Điều 97; 99; 100; 101; khoản 2 Điều 105; khoản 1, khoản 5; Điều 166; Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Luật người cao tuổi 2009;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn là ông Dương Xuân M, sửa toàn bộ bản án số 26/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Xuân M đối với với bị đơn ông Dương Văn D về tranh chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 378, tờ bản đồ số 62, diện tích 97,9 m² tại đồng La Kham, xã T, Thành Phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    Buộc ông Dương Văn D phải trả lại 97,9m² tại thửa đất số 378, tờ bản đồ số 62, tại đồng La Kham, xã T, Thành Phố P, tỉnh Thái Nguyên.

    Ông Dương Xuân M và bà Trần Thị D2 được quyền sử dụng diện tích 97,9 m² tại thửa đất số 378, tờ bản đồ số 62, tại đồng La Kham, xã T, Thành Phố P, tỉnh Thái Nguyên. (Có sơ đồ trích lục đo đạc tháng 02/2023 kèm theo).

    Buộc ông Dương Xuân M và ông ông Dương Văn D phải nộp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại biến động quyền sử dụng đất theo bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Dương Xuân M về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Dương Văn D.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Dương Xuân M nhận chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.000.000 đồng.
  4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Dương Văn D. Các bên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.

    Hoàn trả lại cho ông Dương Xuân M 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0001327 ngày 24/10/2023 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

    (Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - VKS nhân dân tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TP Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS Thành phố Phổ Yên;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Quý My

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/DS-PT ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 152/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Xuân M đối với với bị đơn ông Dương Văn D về tranh chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 378, tờ bản đồ số 62, diện tích 97,9 m2 tại đồng La Kham, xã T, Thành Phố P, tỉnh Thái Nguyên. 2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Dương Xuân M về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Dương Văn D.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger