Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2023/HS-ST

Ngày 27-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Phạm Công Gia.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 162/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Trung C (Tên gọi khác: T), sinh năm 1991, tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1960 và bà Hồ Thị H, sinh năm 1960; vợ, con: Không;

Tiền sự: không.

Tiền án: 03.

  • + Ngày 30/12/2014, tại Bản án số 247/2014/HSST, Nguyễn Trung C bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 08/5/2018, tại Bản án số 31/2018/HS-ST, Nguyễn Trung C bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 01/9/2020 tại Bản án số 80/2020/HSST, Nguyễn Trung C bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai từ ngày 01/9/2023 đến nay (Có mặt).

- Người bị hại:

Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Địa chỉ : Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Hoài T1, sinh năm 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn P, sinh năm 1998 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  2. Trịnh Đình T2, sinh năm 2002 (Vắng mặt). Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung C là đối tượng nghiện ma túy và có 03 tiền án chưa được xóa án tích.

Buổi chiều ngày 24/8/2023, Nguyễn Trung C điều khiển xe mô tô biển số 60N6-5614 đi đến thị trấn T để gặp đối tượng “Đen” nhờ mua ma túy, sau khi cả hai sử dụng ma túy thì “Đen” chở C đi về hướng xã P. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường thuộc ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì C phát hiện nhà anh Nguyễn Văn Q có nhiều gà tre và không có ai trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. C nói với Đ dừng xe phía ngoài để C đi vào trộm gà, tiếp đó C lén lút đi vào nhà anh Q trộm 02 con gà tre và đi ra xe máy mà Đ đang chờ sẵn để bỏ chạy thì bị anh Nguyễn Văn Q phát hiện. Lúc này, Đ điều khiển xe chở C chạy về hướng xã P thì anh Q, anh Nguyễn Văn P và anh Trịnh Đình T2 đuổi theo nhưng C và Đ chạy thoát. Trên đường đi, do lo sợ nên C đã vứt 02 con gà tre và biển số của xe mô tô 60N6-5614 xuống đất.

Ngày 31/8/2023, Nguyễn Trung C bị Công an xã S, huyện T làm việc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tạm giữ 01 xe máy không biển số và 01 điện thoại di động hiệu itel màu đỏ.

Đến ngày 01/9/2023, anh Nguyễn Văn Q đến Công an xã T trình báo sự việc trên. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Nguyễn Trung C, tạm giữ 01 biển số xe 60N6-5614.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Trung C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trị giá tài sản thiệt hại: Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T đã xác định: 02 con gà tre gồm: 01 con gà trống nặng 1,2kg; 01 con gà mái nặng khoảng 01 kg có trị giá 220.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Trung C đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn Q là: 220.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 168/CT-VKSTP-ĐN ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Trung C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố, bị cáo Nguyễn Trung C phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung C từ 08 (tám) tháng đến 10 (mười) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 02 con gà tre do Nguyễn Trung C ném xuống đất nên không thu hồi được.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 60N6-5614 là xe Nguyễn Trung C mượn của anh Nguyễn Hoài T1, anh T1 không biết C sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Itel là tài sản hợp pháp của Nguyễn Trung C không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Những tình tiết khác: Đối với đối tượng tên “Đen” đi cùng Nguyễn Trung C, Cơ quan điều tra Công an huyện T chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Khi nào xác minh được sẽ điều tra, xử lý sau.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Bị cáo Nguyễn Trung C là đối tượng nghiện ma túy và có 03 tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích.

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/8/2023, tại ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trung C đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn Q 02 con gà tre, trị giá tài sản thiệt hại là 220.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Trung C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[5] Về các biện pháp tư pháp:

- Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 02 con gà tre do Nguyễn Trung C ném xuống đất nên không thu hồi được.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 60N6-5614 là xe Nguyễn Trung C mượn của anh Nguyễn Hoài T1, anh T1 không biết C sử dụng xe đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu itel là tài sản hợp pháp của Nguyễn Trung C không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Những tình tiết khác: Đối với đối tượng tên “Đen” đi cùng Nguyễn Trung C, Cơ quan điều tra Công an huyện T chưa xác minh được nhân thân lai lịch. Khi nào xác minh được sẽ điều tra, xử lý sau.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân và mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01/9/2023.
  2. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú;
  • - Công an nhân dân huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 152/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung C bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger