Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Đỗ Thế Anh
  • Ông Phạm Văn Dung

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Xóm C, thôn N, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 (tên gọi khác: Nguyễn Phú H2) và bà Nguyễn Thị N (tên gọi khác: K); có vợ là Nguyễn Thị Thu Đ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa án tích tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2015/HSST ngày 30/12/20215 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị bắt, tạm giữ ngày 21/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là bạn của anh Nguyễn Xuân T - chủ cửa hàng bán quần áo NA Store, địa chỉ: số B, tổ dân phố D, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Thỉnh thoảng H đến cửa hàng của anh T chơi nên biết anh T thường để tiền ở quầy thanh toán, để chìa khóa cửa hàng ở khe cửa, đêm không có người trông coi cửa hàng nên H nảy sinh ý định đột nhập trộm cắp tài sản để trả nợ cho bản thân. Khoảng hơn 03 giờ, ngày 04/8/2023, để tránh bị phát hiện H mặc 01 chiếc áo mưa, xỏ 01 chiếc găng tay cắt ngón màu đen, đi 01 đôi giày nữ nhặt được trước đó và đeo 01 túi đeo chéo màu be, nhãn hiệu CG của H đến cửa hàng N1. H lấy chìa khóa ở khe cửa, mở khóa đi vào trong, kiểm tra tủ đựng tiền tại quầy thanh toán, thấy bị khóa nên H lấy chiếc kìm có sẵn tại quầy để cậy phá tủ rồi lấy toàn bộ số tiền trong tủ cho vào túi quần. H tháo chiếc găng tay vứt lại, bỏ quên 01 túi đeo chéo ở cửa hàng rồi bỏ đi, áo mưa và giầy vứt tại đống rác gần cửa hàng. H không kiểm đếm số tiền lấy được nhưng khẳng định là khoảng hơn 3.000.000 đồng, đã ăn tiêu hết.

Sau khi bị mất trộm, anh T trình báo Công an thị trấn A. Kiểm tra camera an ninh của cửa hàng, anh T nhận ra người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Nguyễn Văn H do có hình xăm ở tay. Anh T liên hệ thì H thừa nhận đã trộm cắp tiền ở cửa hàng của anh T. Ngày 09/8/2023, H đến gặp và bồi thường cho anh T số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, H bỏ trốn khỏi địa phương và đến ngày 21/5/2024 bị bắt truy nã.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như nêu trên. Anh Nguyễn Xuân T khai: Số tiền bị H trộm cắp gồm tiền bán hàng của ngày 03/8/2023 là 2.610.000 đồng (theo hóa đơn bán hàng anh T cung cấp) và 500.000 đồng tiền lẻ để ở quầy để trả lại cho khách. Như vậy, tổng số tiền H đã chiếm đoạt của anh T là 3.110.000 đồng.

Cáo trạng số 166/CT-VKSAD ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật, rất ăn năn hối hận và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 tháng đến 12 tháng tù; Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ, ngày 04/8/2023, tại cửa hàng N1, địa chỉ: số B, tổ dân phố D, thị trấn an D, huyện A, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn H đã lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân T số tiền 3.110.000 đồng. Hành vi lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt tài sản là số tiền 3.100.000đồng của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về nhân thân và hình phạt: Bị cáo có một tiền án tuy đã xóa án tích nhưng chứng tỏ là người có nhân thân xấu, do vậy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét tính chất, mức độ phạm tội, hoàn cảnh gia đình nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh T số tiền 5.000.000 đồng gồm số tiền đã chiếm đoạt và tiền bồi thường thiệt hại đối với chiếc tủ đựng tiền bị hư hỏng, anh T không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21/5/2024. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương;
  • - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện An Dương;
  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 152/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger