Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số:152/2024/HSST

Ngày 25 tháng 7 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Vượng – Giáo viên nghỉ hưu.
  2. Ông Nguyễn Văn Tư – Cán bộ nghỉ hưu.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Đức M, sinh ngày 02/7/2005; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố: Không xác định, con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
    • + Ngày 11/2/2022 bị Chủ tịch UBND thị trấn V, huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ công cụ hỗ trợ trái quy định nhưng chưa gây hậu quả.
    • + Ngày 31/12/2023 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  2. Họ và tên: Phạm Tiến L, sinh ngày 09/9/2006; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tiến L1, sinh năm 1980 và bà Lý Thị H1, sinh năm 1983; gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  3. Họ và tên: Trương Đức H2, sinh ngày 06/5/2006; Nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Công nhân; Văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đức S (đã chết) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1981; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  4. Họ và tên: Nguyễn Quang V, sinh ngày 06/6/2006; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  5. Họ và tên: Hà Văn H3, sinh ngày 12/7/2007; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn D, sinh năm 1962 và bà Hà Thị T1, sinh năm 1974; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

  6. Họ và tên: Nguyễn Văn T2, sinh ngày 11/12/2007; Nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1983 và bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1988; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

* Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:

  • Đại diện hợp pháp cho bị cáo L: Chị Lý Thị H1, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện hợp pháp cho bị cáo H3: Ông Hà Văn D, sinh năm 1962
    Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện hợp pháp cho bị cáo T2: Chị Hoàng Thị M1, sinh năm 1988
    Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

(Đại diện hợp pháp của các bị cáo đều có mặt)

  • Đại diện đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
  • Đại diện đoàn thanh niên xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

2

* Người bào chữa cho các bị cáo:

  • Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Nguyễn Văn N2 – Văn phòng L2 Đoàn luật sư tỉnh B.
    Địa chỉ: Số A, đường C, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Người bào chữa cho bị cáo H3: Luật sư Nguyễn Văn T4 – Văn phòng luật sư Phạm Xuân A – Đoàn luật sư tỉnh B.
    Địa chỉ: Thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  • Người bào chữa cho bị cáo T2: Luật sư Lê Đức T5 – Văn phòng luật sư Đ và Cộng sự – Đoàn luật sư tỉnh B.
    Địa chỉ: Số B, đường L, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Những người bào chữa đều có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Nhật A1, sinh năm 2008
    Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
    Đại diện hợp pháp cho Nhật A1: Anh Vũ Hồng T6
    Địa chỉ: Thôn Sàn, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  2. Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 2008
    Địa chỉ: Bản T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
    Đại diện hợp pháp cho C: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1970 và chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1974
    Cùng địa chỉ: Bản Trại Nhì, xã Hồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
  3. Anh Nguyễn Duy Q, sinh năm 2009
    Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
    Đại diện hợp pháp cho Q: Chị Triệu Thị B, sinh năm 1989
    Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  4. Anh Lê Minh Đ, sinh năm 2008
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
    Đại diện hợp pháp cho Đ: Ông Lê Xuân C1, sinh năm 1972 và bà Lăng Thị Q1, sinh năm 1981
    Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  5. Anh Trịnh Tiến M2, sinh năm 2009
    Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
    Đại diện hợp pháp cho M2 : Chị Đào Thị N3, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
  6. Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Thôn Nguộn, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  7. Bà Trần Thị N4, sinh năm 1966
    Địa chỉ: Thôn Sàn, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
  8. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1970
    Địa chỉ: Bản Trại Nhì, xã Hồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
  9. Chị Nguyễn Thị D1, sinh năm 1974
    Địa chỉ: Bản T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
  10. Chị Đào Thị N3, sinh năm 1983
    Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  11. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1981.
    Tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

3

(Bà Vũ Thị N và chị Nguyễn Thị N1 có mặt; Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác và đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, Phạm Tiến L, sinh ngày 09/9/2006, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Trương Đức H2, sinh ngày 06/5/2006, trú tại tổ dân phố D, thị trấn B, huyện Y cùng nhóm thanh niên gồm: Lê Minh Đ, sinh ngày 05/3/2008, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y; Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 08/4/2008, trú tại thôn T, xã H, huyện Y; T, sinh ngày 15/3/2009, trú tại thôn C, xã H, huyện Y; Nguyễn Duy Q, sinh ngày 29/3/2009, trú tại thôn Y, xã T, huyện Y đến quán B1 ở thị trấn B chơi.

Trong khoảng thời gian này, Nguyễn Đức M, sinh ngày 02/7/2005; Nguyễn Quang V, sinh ngày 06/6/2006; Nguyễn Văn T2, sinh ngày 11/12/2007; Hà Văn H3, sinh ngày 12/7/2007; Vũ Nhật A1, sinh ngày 12/11/2008 đều trú tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang ngồi uống nước tại thị trấn V, huyện L. Do Vũ Nhật A1 quen biết và chơi với Lê Minh Đ nên dùng điện thoại di động nhắn tin cho Đ rủ đến cầu V thuộc thị trấn V, huyện L chơi thì Đ đồng ý. Sau đó, Nhật A1 và mọi người đi trên 2 xe máy từ quán nước lên cầu V đợi.

Lê Minh Đ sau khi nhận được tin nhắn của Vũ Nhật A1 thì rủ mọi người trong nhóm đi cùng đi đến T thì mọi người đồng ý. Nhóm của Phạm Tiến L gồm 6 người đi trên 3 xe mô tô cùng nhau đi đến thị trấn V, huyện L chơi. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, hai nhóm gặp nhau tại cầu V và nói chuyện. Một lúc sau, Trương Đình H4 rủ mọi người đi đến xã M, huyện L chơi và giải quyết việc cá nhân. Sau khi chơi tại đây thì Nguyễn Đức M rủ mọi người tiếp tục đi đến Q thành phố B chơi thì tất cả đồng ý.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm gồm 11 người đi trên 05 xe mô tô cùng xuất phát đi đến Q thành phố B chơi. Trong đó, Vũ Nhật A1 điều khiển xe mô tô BKS 98H1-373.21 chở Hà Văn H3 và Nguyễn Văn T2; Nguyễn Đức M điều khiển xe mô tô BKS 98M1-284.73 chở Nguyễn Quang V; Phạm Tiến L điều khiển xe mô tô SH không rõ BKS chở Trương Đức H2; Nguyễn Duy Q điều khiển xe mô tô BKS 98F1-334.58 chở Lê Minh Đ còn Trịnh Tiến M2 điều khiển xe mô tô BKS 98M1-284.73 chở Nguyễn Mạnh C.

Sau khi đến Quảng trường 3/2, các đối tượng đi trên 05 xe mô tô thành đoàn nối đuôi nhau, di chuyển với tốc độ cao, lạnh lách, đánh võng, bấm còi liên tục trên các tuyến đường xung quanh khuôn viên quảng trường. Thời điểm này

4

xung quanh quảng trường có các phương tiện giao thông di chuyển và người dân chơi tại đây. Hành vi của các đối tượng cụ thể như sau:

  • - Nguyễn Đức M điều khiển xe BKS 98M1-284.73 chở Nguyễn Quang V đi đầu tiên và đi 03 vòng xung quanh Quảng trường 3/2. M điều khiển xe đi xe với tốc độ cao khoảng 70-80km/h, vừa đi vừa lạng lách, đánh võng, bấm còi liên tục trên tuyến đường xung quanh khuôn viên quảng trường.
  • - Nguyễn Duy Q điều khiển xe mô tô BKS 98F1-334.58 chở Lê Minh Đ đi 03 vòng quanh khuôn viên quảng trường với tốc độ cao bám theo xe của M, lạng lách, đánh võng và bấm còi liên tục.
  • - Vũ Nhật A1 điều khiển xe mô tô BKS 98H1-373.21 chở Hà Văn H3 và Nguyễn Văn T2 đi 02 vòng quanh khuôn viên quảng trường với tốc độ cao bám theo sau xe của M, lạng lách, đánh võng và bấm còi liên tục.
  • - Trịnh Tiến M2 điều khiển xe mô tô BKS 98C1-293.16 chở Nguyễn Mạnh C đi 1,5 vòng quanh khuôn viên quảng trường với tốc độ cao bám theo sau xe của M2, vừa đi vừa lạng lách đánh võng và dùng chân gạt chân trống xe phía sau quệt xuống nền đường gây tóe lửa.
  • - Phạm Tiến L điều khiển xe mô tô Honda SH không rõ BKS chở Trương Đức H2 đi 01 vòng quanh khuôn viên quảng trường với tốc độ cao và bám theo xe của M2.

Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày khi cả nhóm đang đua xe xung quanh Quảng trường 3/2 thì bị Tổ tuần tra của Công an thành phố B phát hiện nên các đối tượng điều khiển xe bỏ chạy. Tổ công tác đã kiểm soát được Vũ Nhật A1, Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2 và thu giữ chiếc xe mô tô BKS 98H1-373.21.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ xe mô tô BKS 98M1-284.73 do Nguyễn Quang V giao nộp.

Sau khi sự việc xảy ra, Công an phường N, UBND phường N, thành phố B đã có văn bản đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B xử lý hành vi của các đối tượng vì gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông.

Cơ quan điều tra đã trích xuất, thu giữ và trưng cầu giám định 04 file video tại hệ thống camera an ninh ở khu vực Q ghi lại hình ảnh các đối tượng có hành vi đua xe xung quanh quảng trường.

Kết luận giám định số 844/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 04 file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định sau:
    • - File video có tên “Q truong 1.mp4", dung lượng 296MB, thời lượng 11 phút 00 giây;

5

  • - File video có tên “Q truong 2.mp4", dung lượng 10.3MB, thời lượng 06 phút 59 giây;
  • - File video có tên “Q truong 3.mp4", dung lượng 124MB, thời lượng 8 phút 25 giây;
  • - File video có tên “Q truong 4.mp4”, dung lượng 85.8MB, thời lượng 4 phút 46 giây.
  1. Trích xuất được 12 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra cho các bị can quan sát các file video và bản ảnh trích xuất; nhận dạng ảnh những người tham gia gây rối và hành vi cụ thể của từng người. Kết quả, các bị can đều nhận ra ảnh của nhau, xác định có hình ảnh các đối tượng thực hiện đua xe.

Trong quá trình điều tra, các bị can thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả điều tra xác định nguồn gốc và xử lý phương tiện mà các đối tượng sử dụng đua xe như sau:

  • + Xe mô tô BKS 98H1-373.21 do Vũ Nhật A1 điều khiển là của bà Trần Thị N4, sinh năm 1966, trú tại thôn S, xã T, huyện L là bà ngoại Nhật A1. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà N4.
  • + Xe mô tô BKS 98M1-284.73 do Nguyễn Đức M điều khiển là của bà Nguyễn Thị N1 là mẹ bị can Nguyễn Quang V. Do V tự ý lấy xe đi sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị N1.
  • + Xe mô tô BKS 98C1-293.16 do Trịnh Tiến M2 điều khiển là của bà Đào Thị N3 là mẹ M2. Chị N3 không biết M2 sử dụng xe đi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nên cơ quan điều tra không thu giữ.
  • + Xe mô tô Honda SH không rõ BKS do Phạm Tiến L điều khiển là của bà Vũ Thị N là mẹ bị can Trương Đức H2. Chị N khai đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết nên không thu giữ được.
  • + Xe mô tô BKS 98F1-334.58 do Nguyễn Duy Q điều khiển là của bị cáo Phạm Tiến L. Theo L khai đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết nên không thu giữ được.

Đối với Lê Minh Đ, sinh ngày 05/3/2008; Nguyễn Duy Q, sinh ngày 29/3/2009; Trịnh Tiến M2, sinh ngày 15/3/2009; Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 08/4/2008 và Vũ Nhật A1, sinh ngày 12/11/2008 do chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt hành chính.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận hành vi như nêu trên.

6

Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo về tội về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự..

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng nêu, các bị cáo đều xác nhận cáo trạng truy tố các bị cáo theo hành vi đã nêu là đúng.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị N trình bày: bà là mẹ bị cáo Trương Đức H2, Xe mô tô Honda SH không rõ BKS do Phạm Tiến L điều khiển là của bà, H2 tự ý lấy xe đi, sau khi sự việc xảy ra bà đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết, nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Nguyễn Quang V, xe mô tô BKS 98M1-284.73 do Nguyễn Đức M điều khiển là của bà, V đã tự ý lấy xe này đi, sau khi sự việc xảy ra Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên, nên bà không có yêu cầu gì trong vụ án.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và đại diện của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo đều không có ý kiến gì về những lời khai này.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh và hình phạt :

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

  • - Xử phạt bị cáo Hà Văn H3 từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Trương Đức H2 từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

7

  • - Xử phạt bị cáo Phạm Tiến L từ 04 tháng đến 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang V, Trương Đức H2, Phạm Tiến L cho UBND xã, phường, thị trấn nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136; của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang V, Trương Đức H2, Phạm Tiến L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đức M.

* Phần tranh luận:

  • + Các bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
  • + Luật sư N2 bào chữa cho bị cáo L tranh luận: Về cơ bản đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về hành vi, tội danh, nhưng đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do hành vi không gây thiệt hại; Do ông nội bị cáo tham gia quân đội và được hưởng chế độ nhà nước về chất độc Dioxxin, có xác nhận của UBND xã Đ, nên đề nghị cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
  • + Luật sư T4 bào chữa cho bị cáo H3 tranh luận: Về cơ bản đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về hành vi, tội danh, nhưng đề nghị áp dụng Điều 93 của Bộ luật hình sự cho bị cáo để xử phạt khiển trách, do hành vi của bị cáo đồng phạm với vai trò thứ yếu.
  • + Luật sư T5 bào chữa cho bị cáo T2 tranh luận: Về cơ bản đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về hành vi, tội danh, nhưng do hành vi của bị cáo đồng phạm với vai trò thứ yếu, bị cáo chỉ ngồi sau xe do Việt A2 điều khiển nên đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 tháng tù đến 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát đối đáp:
    • - Với tranh luận của Luật sư N2: Bị cáo phạm tội gây rối trật tự công cộng, không thuộc trường hợp xâm phạm sở hữu hay tội phạm về chức vụ, gây thiệt hại về kinh tế nên không áp dụng tình tiết “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; đối với việc ông nội bị cáo tham gia quân đội và được hưởng chế độ nhà nước về chất độc Dioxxin, có xác nhận của UBND xã Đ, huyện Y, VKS nhất trí với quan điểm của Luật sư, đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo L.
    • - Với tranh luận của Luật sư T4: Đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”

8

theo quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, điều luật không có hình phạt “Khiển trách”, nên không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo H3.

  • - Với tranh luận của Luật sư T5: Căn cứ tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt VKS đề nghị HĐXX áp dụng đối với bị cáo T2 là phù hợp, nên VKS giữ nguyên quan điểm về mức hình phạt đã đề nghị áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, đại diện đoàn thanh niên xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Do vậy, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử vắng mặt những người này.

[3] Về hành vi của các bị cáo theo cáo trạng truy tố: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, Nguyễn Đức M điều khiển xe mô tô BKS 98M1-284.73 chở Nguyễn Quang V; Vũ Nhật A1 điều khiển xe mô tô BKS 98H1-373.21 chở Hà Văn H3 và Nguyễn Văn T2; Nguyễn Duy Q điều khiển xe mô tô BKS 98F1-334.58 chở Lê Minh Đ; Phạm Tiến L điều khiển xe mô tô không rõ BKS chở Trương Đức H2; Trịnh Tiến M2 điều khiển xe mô tô BKS 98C1-293.16 chở Nguyễn Mạnh C đi đến Q thành phố B. Cả nhóm gồm 11 người đi trên 05 xe mô tô di chuyển với tốc độ cao, lạnh lách, đánh võng, đuổi nhau và bấm còi liên tục, đua xe trên các tuyến đường xung quanh quảng trường. Hành vi của các đối tượng đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự trên địa bàn Q thành phố B.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự; Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

Đối với Lê Minh Đ, Nguyễn Duy Q, Trịnh Tiến M2, Nguyễn Mạnh C, Vũ Nhật A1 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố B đã xử phạt vi phạm hành chính.

9

[4] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ việc thiếu hiểu biết, muốn thể hiện bản thân, các bị cáo đã có hành vi tụ tập đi xe máy tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau và bấm còi liên tục, đua xe trên các tuyến đường xung quanh quảng trường 3/2 thành phố B, cũng là nơi công cộng, có nhiều người và phương tiện giao thông qua lại. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự chung tại khu vực quảng trường 3/2 là nơi công cộng được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự, an ninh và an toàn giao thông. Do vậy cần phải xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[5] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội một cách bộc phát, không có sự cấu kết chặt chẽ, không tổ chức, bàn bạc, phân công thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo M2 là người điều khiển xe máy đi đầu để xe của các bị cáo khác theo sau nên vai trò chính, bị cáo L trực tiếp điều khiển xe chở H2 đi theo sau có vai trò thứ hai, các bị cáo Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang V, Trương Đức H2 ngồi sau xe do các bị cáo và các đối tượng khác điều khiển có vai trò thứ ba.

[6] Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Bị cáo M2 có nhân thân xấu, năm 2022 bị Chủ tịch UBND thị trấn V, huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ công cụ hỗ trợ trái quy định nhưng chưa gây hậu quả, năm 2023 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng; Các bị cáo khác đều chưa bị Tòa án nào xét xử về tội gì, cũng chưa bị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào xử lý vi phạm hành chính.

[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, tất cả các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo L có ông nội tham gia quân đội và được hưởng chế độ nhà nước về chất độc Dioxxin, có xác nhận của UBND xã Đ, huyện Y, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[8] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[9] Từ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy: đối với bị cáo M2 cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành công dân có

10

ích, biết tuân thủ pháp luật; đối với các bị cáo Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang V, Trương Đức H2, Phạm Tiến L đều có nhân thân tốt, tính chất, mức độ của tội phạm của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thấy không cần bắt các bị cáo phải chịu hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo thì các bị cáo này cũng có thể tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Các bị cáo Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang V, Trương Đức H2, Phạm Tiến L, khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, buộc bị cáo chịu mức hình phạt cao nhất không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Không có đương sự nào yêu cầu gì về bồi thường dân sự, nên không đặt ra xem xét.

[11] Về vật chứng của vụ án:

  • + Xe mô tô BKS 98H1-373.21 do Vũ Nhật A1 điều khiển là của bà Trần Thị N4, sinh năm 1966, trú tại thôn S, xã T, huyện L là bà ngoại Nhật A1. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà N4, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  • + Xe mô tô BKS 98M1-284.73 do Nguyễn Đức M điều khiển là của bà Nguyễn Thị N1 là mẹ Nguyễn Quang V. Do V tự ý lấy xe đi sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị N1, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  • + Xe mô tô BKS 98C1-293.16 do Trịnh Tiến M2 điều khiển là của bà Đào Thị N3 là mẹ M2, bà N3 không biết M2 sử dụng xe đi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, cơ quan điều tra không thu giữ, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  • + Xe mô tô Honda SH không rõ BKS do Phạm Tiến L điều khiển là của bà Vũ Thị N là mẹ bị cáo Trương Đức H2. Chị N không biết L sử dụng xe đi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng và khai đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết nên không thu giữ được, cơ quan điều tra không thu giữ xử lý, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  • + Xe mô tô BKS 98F1-334.58 do Nguyễn Duy Q điều khiển là của Phạm Tiến L. Theo L khai đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết, nên cơ quan điều tra không thu giữ xử lý, do đó HĐXX không đặt ra xem xét.

11

[12] Các vấn đề có liên quan: Đối với Lê Minh Đ, sinh ngày 05/3/2008; Nguyễn Duy Q, sinh ngày 29/3/2009; Trịnh Tiến M2, sinh ngày 15/3/2009; Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 08/4/2008 và Vũ Nhật A1, sinh ngày 12/11/2008 do chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng, Công an thành phố B đã quyết định xử phạt hành chính, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[13] Về án phí: Bị cáo M2 thuộc hộ nghèo được miễn án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo khác phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[14] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.

[15] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt :

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân Tối cao.

  • - Xử phạt bị cáo Hà Văn H3 05 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 05 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 05 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

12

  • - Xử phạt bị cáo Trương Đức H2 05 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán-Tòa án nhân dân Tối cao. Xử phạt bị cáo Phạm Tiến L 05 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo L cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo H2 cho UBND xã B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo V, bị cáo H3 và bị cáo T2 cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136; của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hà Văn H3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang V, Trương Đức H2, Phạm Tiến L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đức M.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 292; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, Luật sư bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo thủ tục quy định.

13

4. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND TP Bắc Giang;
  • - Công an TP Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

Trần Mạnh Thắng

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HSST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự về tội "gây rối trật tự công cộng"

  • Số bản án: 152/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Gây rối trật tự công cộng"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mạnh "gây rối trật tự cồng cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger