TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:152/2024/DS-PT
Ngày: 25 - 7 - 2024
V/v: Tranh chấp ranh giới
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Ông Mai Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:
Ông Trần Mạnh Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2024/TLPT- DS ngày 15/4/2024 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” do bản án sơ thẩm số: 31/2024/DS-ST ngày 07/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2024/QĐXXPT-DS ngày 03/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1959 và bà Mai Thị H, sinh năm 1960. Địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Phạm Thị N - Luật sư Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1960 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Văn H1: Ông Vũ Anh T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số A, ngõ V, phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 30-9-2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H trình bày:
Năm 1979, bằng kết quả đấu giá, vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H được giao quyền sử dụng đất tại xóm N, xã H. Ông T và bà H đã xây nhà, công trình xây dựng khác và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Ngày 19/12/1997, ông T, bà H được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số M 237622 đối với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28 xã H, diện tích 775m² (trong đó: 190m² đất ở; 445m² đất vườn tạp và 140m² đất ao nuôi cá), tên hộ ông Phạm Văn T. Quá trình sử dụng đất, do có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất nên ông T, bà H đã làm đơn và được cấp đổi (GCNQSDĐ) số M 237622 ngày 19/12/1997 thành GCNQSDĐ số DH 193350 ngày 16/12/2022 trong đó công nhận vợ chồng ông T, bà H được quyền sử dụng thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28 xã H, diện tích 775m² (trong đó: 300m² đất ở; 475m² đất trồng cây lâu năm).
Tháng 7 năm 2023, ông T, bà H làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho các con sử dụng thì biết được diện tích đất hộ ông T, bà H đang sử dụng còn thiếu 33m²; diện tích đất này hiện đang do ông Đặng Văn H1 và bà Trần Thị T1 là hộ sử dụng đất liền kề phía Nam lấn chiếm. Trên phần đất này ông T, bà H đã trồng 01 hàng cau từ đông sang tây; ông H1, bà T1 trồng 10 cây cau, 01 cây hồng xiêm. Ông T, bà H yêu cầu Tòa án xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 05 và thửa số 06 tờ bản đồ số 28 xã H; buộc ông H1, bà T1 phải thu dọn 10 cây cau và 01 cây hồng xiêm đã trồng trên phần đất tranh chấp, trả lại diện tích 33m² đất (ký hiệu S2 được giới hạn bởi các điểm 3, 4, 5, 3 trên sơ đồ hiện trạng ngày 26 tháng 12 năm 2023) cho ông T, bà H sử dụng.
Tại bản tự khai ngày 17-11-2023, bị đơn ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1 trình bày:
Từ năm 1985, ông H1, bà T1 được Ủy ban nhân dân xã H giao sử dụng thửa đất số 06, tờ bản đồ số 28 xã H diện tích 655m². Ông H1, bà T1 đã được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất trên từ năm 1997. Khi ông H1, bà T1 được UBND xã H giao đất thì ông T, bà H đã ở thổ đất liền kề trước đó khoảng 5 đến 6 năm. Ông T, bà H đã trồng hàng cau phía Nam thổ (dài từ Đông sang T) làm ranh giới giữa thổ ông T và thổ ông H1. Hai gia đình sử dụng mốc giới là hàng cau do hộ ông T trồng đó đến nay trên 40 năm không xảy ra tranh chấp. Trong khi đó, phần đất tranh chấp S2 diện tích 33m² khi ông H1, bà T1 đến ở là đất sông. Phần đất này ông H1 được UBND xã H giao, dày công vượt lập, sử dụng
ổn định từ trước đến nay. Vì vậy, ông H1, bà T1 không nhất trí yêu cầu của ông T, bà H; đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông T, bà H.
Từ nội dung vụ án như trên, bản án số: 30/2024/DS-ST ngày 05/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã quyết định:
Căn cứ các Điều 155, 175 Bộ luật Dân sự; các Điều 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai; các Điều 36, 39, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Xử chấp nhận yêu cầu về “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” của ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H đối với ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1.
1. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 05 và thửa 06 tờ bản đồ số 28 xã H là đoạn thẳng dài 26.6m, giới hạn bởi các điểm 4-5.
2. Xác nhận phần đất diện tích 33m² được giới hạn bởi các điểm 3,4,5,3 thuộc quyền sử dụng của ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H.
3. Buộc ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1 phải có nghĩa vụ di chuyển 10 cây cau, 01 cây hồng xiêm trên phần đất S2 giới hạn bởi các điểm 3,4,5,3 để bàn giao phần diện tích đất này cho ông T, bà H sử dụng.
(Việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất có sơ đồ vẽ kèm theo).
4. Án phí: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự
Ngày 18/3/2024, ông Đặng Văn H1 và bà Trần Thị T1 kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm: Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và giữ nguyên ý kiến trình bày ở trên.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, quyền lợi của đương sự được bảo đảm.
Về nội dung giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm như sau: Sửa bản án sơ thẩm. Chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông H1, bà T1. Bắc yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T, bà H. Xác định ranh giới đất của vợ chồng ông T, bà H và đất của vợ chồng ông H1, bà T1 là hàng rào lưới sắt giữa
hàng cau của vợ chồng ông T, bà H và hàng cau của vợ chồng ông H1, bà T1 do vợ chồng ông H1, bà T1 dựng lên đến nay vẫn còn)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Đặng Văn H1 và bà Trần Thị T1 được làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 BLTTDS nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự tố tụng phúc thẩm. Ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H, ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1 đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[3] Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” và không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Dân sự là đúng.
[4] Năm 1979, bằng kết quả đấu giá, vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H được giao quyền sử dụng đất hiện nay là thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28 xã H và đã làm nhà ở và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Thửa đất số 05, tờ bản đồ số 28 xã H có diện tích 775 m² (trong đó 300 m² đất ở và 475 m² đất trồng cây lâu năm) được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ lần đầu ngày 19/12/1997 và được Sở Tài nguyên và môi trường cấp đổi GCNQSDĐ ngày 16/12/2022 tên ông Phạm Văn T và bà Mai Thị H. Thửa đất này có tứ cận như sau: Cạnh phía Đông giáp thổ ông H2; cạnh phía Tây giáp đường liên xã, mương thoát nước; cạnh phía Nam giáp thổ ông H1; cạnh phía Bắc giáp thổ ông H3.
[5] Năm 1985, ông H1, bà T1 được Ủy ban nhân dân xã H giao sử dụng đất nay là thửa số 06, tờ bản đồ số 28 xã H. Thửa số 06 tờ bản đồ số 28 xã H có diện tích 655 m² được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ lần đầu ngày 19/12/1997 tên hộ ông Đặng Văn H1. Thửa đất này có tứ cận như sau: Cạnh Đông giáp đất miếu và thổ ông K, thổ ông B; cạnh phía Tây giáp đường liên xã, mương; cạnh phía Nam giáp đường trục xã; cạnh phía Bắc giáp thổ ông T.
[6] Thửa đất số 05 và thửa số 06 tờ bản đồ số 28 xã H có vị trí liền kề nhau, đều đã được cấp GCNQSDĐ lần đầu ngày 19/12/1997. Quá trình sử dụng, các đương sự đều không ý kiến thắc mắc gì về hồ sơ địa chính cũng như GCNQSDĐ đã được cấp. Tháng 7 năm 2023, vợ chồng ông T, bà H làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho các con đã nhờ cán bộ Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và cán bộ địa chính xã H đo đạc khảo sát thực địa thì phát hiện diện tích đất đang sử dụng còn thiếu 18m² là hình tam giác có chiều canh phía Đông rộng khoảng 2,5m, chiều cạnh phía Bắc và phía Nam đều dài khoảng 7,2m nên giữa vợ chồng ông T, bà H và vợ chồng ông H1, bà T1 mới phát sinh tranh chấp và vợ chồng ông T, bà H khởi kiện yêu cầu chồng ông H1, bà T1 trả lại diện tích 18m² nêu trên. Theo kết quả đo đạc hiện trạng của công ty  ngày 26 tháng 12 năm 2023: hiện trạng sử dụng, diện tích đất thửa số 05 tờ bản đồ số 28 xã H do vợ chồng ông T, bà H sử dụng là 742 m², giảm 33m² so với GCNQSDĐ đã được cấp; hiện trạng sử dụng, diện tích đất thửa số 06 tờ bản đồ số 28 xã H do vợ chồng ông H1, bà T1 sử dụng là 715 m², tăng 60 m² so với diện tích đã được cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên qua xem xét thẩm định tại chỗ, cấp phúc thẩm thấy: khi đo đạc hiện trạng, công ty  xác định mốc giới để đo đạc diện tích đất nhà vợ chồng ông H1, bà T1 cũng như diện tích đất đang tranh chấp đã có sai sót, không chính xác. Cụ thể: tại phần đất tiếp giáp giữa đất hộ ông H1 và đất Miếu có gốc cây nhãn. Phần đất phía Đông gốc nhãn thuộc đất Miếu, hiện nay UBND xã H đang mở rộng đường giao thông phía Nam đất của vợ chồng ông H1, bà T1, UBND xã H mở rộng đường đến tim gốc nhãn này. Điểm mốc số 10 theo bản vẽ của công ty  lại cách tim gốc nhãn này ra phía lòng đường là 70cm. Phần đất từ phía Tây gốc nhãn là đất hộ ông H1 đang quản lý, chính quyền địa phương đang vận động hộ ông H1 xác định lại mốc giới để trả lại đất hành lang giao thông. Điểm mốc số 11 theo bản vẽ của công ty  là mép ngoài của góc cột điện giáp đường, cột điện này được dựng trên đất hành lang giao thông ( là điểm giao nhau giữa đường giáp phía Tây và đường giáp phía Nam đất hộ ông H1). Tại điểm mốc số 4 theo bản vẽ của công ty Â, khoảng cách đo từ mép trong của cột điện đôi được dựng trên đất hành lang giao thông ra phía đường đến điểm mốc số 4 là 80cm. Như vậy các điểm mốc số 4, 10, 11 đều nằm trên hành lang giao thông dẫn đến số đo diện tích đất của các hộ dân không chính xác. Căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng của công ty Â, Toà án cấp sơ thẩm kết luận vợ chồng ông H1, bà T1 lấn chiếm đất của vợ chồng ông T, bà H có diện tích là 33m² được giới hạn bởi các điểm 3,4,5,3 theo bản vẽ của công ty  (trong đó đoạn 3-4 dài 26,4m; đoạn 4-5 dài 26,6m; đoạn 5-3 dài 2,5m) là thiếu thuyết phục vì không thể căn cứ vào việc tăng hay giảm diện tích đất của các hộ liền kề nhau để kết luận là có việc lấn chiếm đất hay không phải xem xét việc xác định ranh giới giữa các chủ sử dụng đất và toàn bộ quá trình sử dụng diện tích đất có tranh
chấp.
[7] Hai bên đương sự đều thừa nhận: Ranh giới giữa hai thửa đất là đường thẳng kéo dài hết thửa đất từ Đông sang Tây. Tại phần đất phía Nam nhà ông T giáp với diện tích đất đang tranh chấp ( đoạn 3-4 theo bản vẽ của công ty Â), vào khoảng những năm 1985-1990, vợ chồng ông T, bà H đã trồng 01 hàng cau từ Đ sang Tây hết thửa đất. Diện tích đất đang tranh chấp trước đây là đất trũng, vợ chồng ông H1, bà T1 đã vượt lập nên để sử dụng. Trên diện tích đất đang tranh chấp, vào khoảng những năm 1989-1990, vợ chồng ông H1, bà T1 trồng hàng cau 10 cây song song với hàng cây cau nhà vợ chồng ông T, bà H. Hai hàng cau cách nhau trung bình khoảng 35cm. Ở giữa hai hàng cau, vợ chồng ông H1, bà T1 đã dựng hàng rào lưới sắt làm ranh giới giữa hai nhà. Khi vợ chồng ông H1, bà T1 trồng cau, dựng hàng rào lưới sắt vợ chồng ông T, bà H không có tranh chấp gì. Hai gia đình đã sử dụng ranh giới này hơn 30 năm; diện tích đất có tranh chấp cũng do vợ chồng ông H1, bà T1 quản lý, sử dụng hơn 30 năm mà không có tranh chấp gì và việc này diễn ra trước thời điểm hai gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự 2015, xác định ranh giới giữa hai thửa đất là đường thẳng kéo dài hết thửa đất từ Đông sang Tây nằm giữa hàng cây cau của vợ chồng ông T, bà H và hàng cây cau của vợ chồng ông H1, bà T1 hiện này đã được vợ chồng ông H1, bà T1 dựng hàng rào lưới sắt. (Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của cấp phúc thẩm, đường ranh giới này cách bức tường phía Nam nhà của gia đình ông T trung bình 52cm).
[8] Từ những phân tích đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy kháng cáo của ông Đặng Văn H1 và bà Trần Thị T1 là có căn cứ nên được chấp nhận.
[9] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên ông H1, bà T1 không phải nộp án phí phúc thẩm.
[10] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
Chấp nhận kháng cáo của vợ chồng ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1. Sửa bản án sơ thẩm số: 31/2024/DS-ST ngày 07/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Căn cứ các Điều 155, 175 Bộ luật Dân sự; các Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai:
2.1 Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H đối với vợ chồng ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1 về việc buộc vợ chồng ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1 phải trả lại cho vợ chồng ông Phạm Văn T, bà Mai Thị H 33m² đất lấn chiếm.
2.2. Xác định ranh giới giữa hai thửa đất số 05 và thửa số 06 tờ bản đồ số 28 xã H là đường thẳng kéo dài hết thửa đất từ Đông sang Tây nằm giữa hàng cây cau của vợ chồng ông T, bà H và hàng cây cau của vợ chồng ông H1, bà T1 hiện này đã được vợ chồng ông H1, bà T1 dựng hàng rào lưới sắt. (Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của cấp phúc thẩm, đường ranh giới này cách bức tường phía Nam nhà của gia đình ông T trung bình 52cm).
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về lệ phí, án phí Toà án: Vợ chồng ông Đặng Văn H1, bà Trần Thị T1 không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Công |
Bản án số 152/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Số bản án: 152/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Thành và ông Hội
