Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 – 6 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Chí Nhân

Ông Nguyễn Ngọc Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị P, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Chị Phan Thị P trình bày:

- Về hôn nhân: Chị chung sống với N vào năm 2005, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau vào ngày 11/4/2012. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, bất đồng quan điểm, anh N có hành vi bạo lực, dùng dao đe dọa chị nhiều lần. Nay tình cảm không còn gắn bó yêu thương, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn trách nhiệm với ai nên chị yêu cầu được ly hôn anh N.

- Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thảo D, sinh ngày 10/8/2005, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Đối với Nguyễn Nhất D1, sinh ngày 20/6/2010, chị P yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định tự thỏa thuận tài sản chung, về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Văn N trình bày:

- Về hôn nhân: Về thời gian chung sống, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn như chị P trình bày là đúng. Quá trình chung sống cũng có phát sinh mâu thuẫn bất đồng quan điểm, do chị P không trung thực trong vấn đề tiền bạc nên thường xuyên xảy ra cự cãi, anh không có hành vi đánh đập chị P, vợ chồng cãi nhau qua lại, bằng lời nói anh có đe dọa sẽ dùng dao chém chị P, nhưng anh chỉ nói chứ không hành động. Mâu thuẫn xảy ra khoảng một năm, từ khi chị P đi làm ở công ty, mỗi lần cãi nhau chị P bỏ đi, tương tự như vậy rất nhiều lần. Anh không đồng ý ly hôn với chị P do anh và chị P chưa phân chia tài sản chung.

- Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thảo D, sinh ngày 10/8/2005, đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Đối với Nguyễn Nhất D1, sinh ngày 20/6/2010, anh N thống nhất theo nguyện vọng của con chung, tuy nhiên cấp dưỡng theo khả năng cho con, không đồng ý theo yêu cầu của chị P.

- Về tài sản chung: Anh N xác định vợ chồng có tài sản chung chưa phân chia xong nhưng anh không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh và chị P sẽ tự thỏa thuận phân chia với nhau.

- Về nợ: Anh N xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Phan Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn N đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.

[2] Về hôn nhân: Chị P và anh N kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống chị P xác định vợ chồng mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu ly hôn, anh N xác định vợ chồng cũng có xảy ra cãi nhau, bất đồng quan điểm, mâu thuẫn đã kéo dài một năm nhưng không thể hàn gắn, anh N còn thừa nhận có dùng lời lẽ hâm dọa chị P. Mặc dù anh N không đồng ý ly hôn nhưng lý do không đồng ý ly hôn là tài sản của anh và chị P chưa phân chia chứ không vì tình cảm vợ chồng mà mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị có xảy ra đến mức trầm trọng không thể kéo dài tình trạng hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cho chị P được ly hôn với anh N là phù hợp.

[3] Về con chung: Khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối với cháu Thảo D đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là đúng quy định. Đối với cháu Nhất D1, chị P có yêu cầu nuôi con, anh N đồng ý theo nguyện vọng. Tại biên bản ngày 07/6/2024 của Tòa án, cháu Nhất D1 có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng chị P. Để đảm bảo theo nguyện vọng của con cũng như đảm bảo điều kiện sống ổn định của cháu Nhất D1 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị P, giao con chung Nguyễn Nhất D1 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị P: Theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: “2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.”. Do đó, việc chị P yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở được chấp nhận. Về mức cấp dưỡng: Chị P yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng, anh N không đồng ý theo yêu cầu của chị P. Quá trình giải quyết vụ án, anh N và chị P đều xác định anh N có thu nhập, bình quân mỗi ngày khoảng 450.000 đồng nên mức yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị P là phù hợp thu nhập của anh N và phù hợp các quy định pháp luật. Do đó, cần buộc anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nhất D1 1.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 24/6/2024 đến khi cháu Nhất D1 đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh N xác định tự thỏa thuận phân chia phần tài sản chung và về nợ chung không có, không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp. Trường hợp các đương sự không tự thỏa thuận phân chia tài sản có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bằng vụ kiện khác.

[5] Về án phí: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng; Anh N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị P.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị P được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Giao Nguyễn Nhất D1, sinh ngày 20/6/2010 cho chị Phan Thị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000 đồng/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Nguyễn Văn N không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong đối với tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  1. Về án phí:
    1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001239 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (đã nộp xong).
    2. Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); (chưa nộp).
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Ngọc Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 152/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger