|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2024/HS - ST Ngày: 23/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:+ Ông Đinh Văn Cương
+ Bà Nguyễn Thị Thùy
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương - là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần H, sinh năm 1965 tại Quảng Ngãi; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú:TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp:làm nông; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần N và bà Đỗ Thị T (cả hai đều đã chết); vợ Lê Thị H1, có 05 con lớn nhất sinh năm 1989 và nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần V, sinh năm 1969 tại Quảng Ngãi; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú:TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp:làm nông; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc:Kinh; giới tính: nam; tôn giáo:không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần N và bà Đỗ Thị T (cả hai đều đã chết); vợ Huỳnh Thị N1, có 03 con lớn nhất sinh năm 1993 và nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc N2, sinh năm 1977 tại Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú:TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1 và bà Vũ Thị Đ; vợ Vũ Thị H2, có 03 con lớn nhất sinh năm 2004 và nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Nguyễn Duy H3, sinh năm 1955 tại Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: thôn K, xã B, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, chỗ ở hiện nay: TDP Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị H4 (đã chết); vợ Nguyễn Thị L, có 05 con lớn nhất sinh năm 1984 và nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến ngày 05/9/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh.
- Bị hại: ông Tống Văn D, sinh năm 1963. Địa chỉ: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có tranh chấp về đường giao thông nội đồng của các hộ dân trong đó có các hộ ông Trần H, Trần V, Nguyễn Ngọc N2 và Nguyễn Duy H3 với diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Tống Văn D tại các thửa đất số 419, 1731, 421 tờ bản đồ địa chính số 27 đo đạc năm 2004 thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và đã được UBND thị trấn Đ, huyện L giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên các ông Trần H, Trần V, Nguyễn Duy N3 và Nguyễn Duy H3 vẫn không đồng ý và cho rằng đoạn đường dọc theo bờ suối đã bị gia đình ông Tống Văn D trồng cây cà phê lấn chiếm đất của con đường này.
Từ bức xúc việc gia đình ông Tống Văn D không mở rộng đường đi, làm ảnh hưởng đến việc đi lại, sản xuất của người dân nên vào khoảng 17h ngày 11/6/2023, các ông Trần H, Trần V, Nguyễn Duy H3, Nguyễn Ngọc N2 hẹn gặp nhau tại nhà Trần H ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để bàn bạc thống nhất việc đi chặt phá các cây cà phê của gia đình ông D để mở rộng đường. Như đã hẹn, cả bốn người ngồi nói chuyện tại gốc cây xoài ở sân nhà H thì H, V, H3 và N2 nói chuyện với nhau về việc gia đình ông D không đồng ý mở rộng đường đi nên cả bốn người cùng thống nhất là chiều ngày 12/6/2023, sau khi đi làm về sẽ cùng nhau đi đến vị trí hàng cà phê của gia đình ông D để chặt phá các cây cà phê dọc theo đường đất, giáp với bờ suối tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L với mục đích mở rộng đường. Lúc này, ông H3 nói với H, V và N2 là đang bị đau tay nên không chặt cây cà phê được nhưng sẽ cùng mọi người đi đến để chặt phá hàng cây cà phê này mở rộng đường đi, sau đó thì tất cả đi về nhà.
Đến khoảng 17h ngày 12/6/2023, theo như đã bàn bạc thống nhất trước đó, Nguyễn Duy H3 điều khiển xe mô tô loại wave màu đen đi đến nhà của Nguyễn Ngọc N2 để chặt phá cây cà phê của ông D. Khi đi N2 cầm theo 01 cưa tay bằng sắt, lưỡi cưa dài 32cm, cán bằng sắt đã bị hoen rỉ đi ra gặp H3 rồi mỗi người điều khiển một xe mô tô đi đến đứng ở cổng nhà T để đợi. Lúc này, Trần H và Trần V từ trong nhà H đi ra, H cầm theo một chiếc cưa tay bằng sắt dài 50cm, cán bằng nhựa màu đen và 01 con dao rựa cán gỗ dài 35cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 24,5cm, còn V không cầm gì. Sau khi gặp nhau thì V, H, N2 và H3 đi từ cổng nhà H đến khu vực đường đất giáp vườn cà phê của ông D, cách nhà ông H khoảng 700m để chặt phá cây cà phê của ông D. Khi đến nơi, N2 và H mỗi người cầm 01 cưa tay đi vào vườn cà phê đến vị trí hàng cà phê ngoài cùng dọc theo đường đất dùng cưa tay cưa hạ các cây cà phê dọc theo đường đi, V thì dùng tay bẻ cành và một số thân cây cà phê, còn H3 đứng ở bên ngoài đường đất cách vị trí của H, N2, V đang cưa, bẻ cây cà phê khoảng 01m; đồng thời H3 đi qua, đi lại dọc theo hàng cà phê để quan sát H, N2, V cưa, bẻ các cây cà phê. Sau khi H dùng cưa cưa đứt ngang gốc 04 cây cà phê, N2 dùng cưa cưa đứt ngang gốc 05 cây cà phê và V dùng tay bẻ gãy 02 cây cà phê thì tất cả bỏ đi về nhà. Ngày 13/6/2023, ông Tống Văn D đến thăm vườn cà phê của gia đình, phát hiện 11 cây cà phê loại robusta giống xanh lùn của gia đình trồng ghép năm 2019, cây cao khoảng 02m, có nhiều nhánh, đường kính gốc khoảng 08-10cm đã cho thu hoạch bị cưa, bẻ đứt rời khỏi thân nên đã trình báo.
Ngày 19/6/2023, chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã tiến hành đo đạc hiện trạng các cây cà phê bị hủy hoại và xác định 11 cây cà phê bị hủy hoại nêu trên nằm trong ranh giới thửa đất số 419, 1731, 421 tờ bản đồ số 27 đo đạc năm 2004, hiện do hộ ông Tống Văn D sử dụng.
Ngày 04/04/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L định giá tài sản thiệt hại 11 cây cà phê robusta, loại cà phê ghép trồng năm thứ tư bị cưa hạ các thân có tổng giá trị thiệt hại là 2.777.000đồng
Vật chứng thu giữ gồm: 01 cưa tay bằng sắt, có răng lưỡi cưa dài 32cm, tay cầm bằng sắt đã bị hoen rỉ; 01 cưa tay bằng sắt, cán bằng nhựa màu đen, kích thước dài 50cm, bản rộng 04cm; 01 dao rựa, cán bằng gỗ dài 35cm, lưỡi dao dài 24,5cm, bản dao rộng 04cm.
Tại bản cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Trần H, Trần V, Nguyễn Duy H3, Nguyễn Ngọc N2 về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần H, Trần V, Nguyễn Ngọc N2 và Nguyễn Duy H3 về tội: “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H3 từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; các bị cáo Trần H, Trần V và Nguyễn Ngọc N2 mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Về xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì nhưng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo do bức xúc mà nhất thời phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận, do bức xúc việc ông Tống Văn D không đồng ý mở rộng đường đi, làm ảnh hưởng đến việc đi lại, sản xuất của người dân nên các bị cáo Trần H, Trần V, Nguyễn Ngọc N2 và Nguyễn Duy H3 đã có sự bàn bạc, thống nhất cùng nhau vào khoảng 17 giờ ngày 12/6/2023, các bị cáo đã dùng cưa, dao rựa để cưa và bẻ gãy 11 cây cà phê loại robusta, giống xanh lùn là tài sản của ông Tống Văn D gây thiệt hại theo kết quả định giá có tổng giá trị là 2.777.000đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo về hành vi các bị cáo đã thực hiện phù hợp với lời khai của người bị hại và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Trần H, Trần V, Nguyễn Ngọc N2 và Nguyễn Duy H3 phạm tội: “Hủy hoại tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, thể hiện sự coi thường pháp luật, hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân về tài sản được pháp luật bảo vệ đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau mà thực tế do bức xúc việc ông D không đồng ý tự giải tỏa cây trồng trên đất để mở rộng đường phần đoạn đường dọc theo mương thủy lợi sát với vườn cà phê của ông D nên các bị cáo đã không tự kiềm chế được và nhất thời phạm tội. Các bị cáo rủ nhau đến nhà bị cáo H để bàn bạc và thống nhất lúc 17 giờ ngày 12/6/2023 sẽ cùng nhau đi đến vị trí đoạn đường dọc theo mương thủy lợi để cưa hạ các cây cà phê của hộ ông Tống Văn D nhằm mục đích tự mở rộng con đường đi cho các hộ dân. Khi đi, bị cáo N2 cầm theo 01 cưa tay; bị cáo H cầm theo 01 cưa tay và 01 dao rựa. Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo H, V, N2 thực hiện hành vi với vai trò là người thực hành, còn bị cáo H3 thực hiện hành vi với vai trò là người giúp sức về mặt tinh thần. Cụ thể, bị cáo N2 dùng cưa cưa đứt ngang gốc 05 cây cà phê, bị cáo H trực tiếp cưa đứt ngang gốc 04 cây cà phê, bị cáo V thì dùng tay bẻ gãy 02 cây cà phê còn bị cáo H3 đứng ở bên ngoài quan sát. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau là phù hợp.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: xét nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều là dân lao động thuần túy, nhận thức về pháp luật còn hạn chế; hơn nữa do bức xúc với bị hại mà các bị cáo đã không tiết chế được cảm xúc của mình nên nhất thời phạm tội. Mặt khác thiệt hại mà các bị cáo gây ra cho bị hại không lớn, không ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sinh hoạt của bị hại đồng thời bị hại cũng đã tha thứ cho các bị cáo. Mặt khác, các bị cáo cũng đã lớn tuổi, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chửa lỗi lầm trở thành người công dân có ích nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng hình phạt chính là hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo, giao các bị cáo cho UBND nơi cư trú và gia đình các bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo là dân lao động nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét .
[8]. Xử lý vật chứng:
Đối với 01 cưa tay bằng sắt, có răng lưỡi cưa dài 32cm, tay cầm bằng sắt đã bị hoen rỉ; 01 cưa tay bằng sắt, cán bằng nhựa màu đen, kích thước dài 50cm, bản rộng 04cm; 01 dao rựa, cán bằng gỗ dài 35cm, lưỡi dao dài 24,5cm, bản dao rộng 04cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật vì lý do có bị cáo là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí theo quy định nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Trần H, Trần V, Nguyễn Ngọc N2, Nguyễn Duy H3 phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Trần H 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Xử phạt: bị cáo Trần V 12 (mười hai) tháng cải cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Ngọc N2 12 (mười hai) tháng cải cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Duy H3 12 (mười hai) tháng cải cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án; được trừ thời gian tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến ngày 05/9/2024 vào thời gian chấp hành án (01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ).
Giao các bị cáo Trần H, Trần V, Nguyễn Ngọc N2, Nguyễn Duy H3 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Các bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tại không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.
2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
T3 tịch thu tiêu hủy 01 cưa tay bằng sắt, có răng lưỡi cưa dài 32cm, tay cầm bằng sắt đã bị hoen rỉ; 01 cưa tay bằng sắt, cán bằng nhựa màu đen, kích thước dài 50cm, bản rộng 04cm; 01 dao rựa, cán bằng gỗ dài 35cm, lưỡi dao dài 24,5cm, bản dao rộng 04cm. (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 11/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/10/2024), để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 152/2024/HS - ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự - hủy hoại tài sản
- Số bản án: 152/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần H cùng đồng phạm hủy hoại tài sản
