Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HS-PT
Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Nâu.

Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hải Vinh; 2. Ông Nguyễn Trung Thông.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn An Ninh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 155/TLPT-HS ngày 03/6/2024 đối với bị cáo Lê Văn H và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 26/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 1992. Tên gọi khác: Không có; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1969; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; Vợ: Trần Thị T2, sinh năm 1993; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2022 đến ngày 08/02/2023, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Bùi Văn T3, sinh năm 1995. Tên gọi khác: Không có; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; T: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn P, sinh năm 1962; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1972. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không.

Tiền sự: Quyết định số 125/QĐ-XPHC ngày 22/7/2021, Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/8/2021 T3 chấp hành xong tiền phạt.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng do không có kháng cáo và kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa năm 2021, Lê Văn H có thuê đất, mở xưởng gia công tại thôn N, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trong thời gian này, H tìm hiểu trên mạng xã hội Facebook và biết được các phương thức, thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức tuyển dụng cộng tác viên làm các mặt hàng gia công, nên đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu việc làm. Để thực hiện ý định, H cùng vợ mình là Trần Thị Tuyết Đ bài viết trên các hội, nhóm của các mạng xã hội Facebook, Z với nội dung tuyển cộng tác viên làm các mặt hàng gia công (bao lì xì, cây hoa kim tiền, vòng đeo tay, hộp vịt thư, túi hạt giống...), với cam kết, hứa hẹn có hội việc làm hấp dẫn, thu nhập cao khoảng 1.200.000đồng/1 đơn hàng. Để tạo niềm tin, HT2 đăng các tin nhắn, các Video hướng dẫn thực hiện công việc; các Video được dàn dựng hình ảnh các cộng tác viên được thanh toán tiền sau khi hoàn thành đơn hàng.

Đồng thời, Lê Văn HTrần Thị T2 thuê các đối tượng làm việc cho mình, gồm: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1997 ở thôn T, xã T; Bùi Văn T3, sinh năm 1995 ở thôn K, xã H; Hoàng Văn T4, sinh năm 1993; Đỗ Văn K, sinh năm 1998; Vũ Thị K1, sinh năm 1991; Đinh Thị T5, sinh năm 1993; Thân Văn H3, sinh năm 1994, cùng ở thôn N, xã H. Quá trình thực hiện, Lê Văn HTrần Thị T2 và các đối tượng giúp sức thống nhất phương thức, thủ đoạn để chiếm đoạt tiền của người lao động như sau: khi người có nhu cầu việc làm tương tác tìm hiểu thông tin thì các đối tượng đưa ra thông tin về việc làm có mức thu nhập cao, hấp dẫn, công việc đơn giản và được làm tại nhà. Khi người lao động nhất trí làm cộng tác viên thì yêu cầu họ phải chuyển trước tiền mua nguyên liệu với mức từ 450.000đồng - 500.000đồng/1 đơn hàng (gồm: máy xay keo để dán thành bao lì xì, phong thư, túi hạt giống hay hạt cườm để làm vòng đeo tay...), giá trị thực tế chỉ khoảng 100.000đồng (1 bộ nguyên liệu). Đồng thời hứa hẹn khi hoàn thiện sản phẩm sẽ thu mua lại với giá 1.200.000 đồng - 1.500.000 đồng/1 sản phẩm. Khi làm thủ tục để được ký hợp đồng lao động (hợp đồng do các đối tượng tự soạn gửi đến cộng tác viên), sản phẩm khi hoàn thiện sẽ được thu mua tại nhà hoặc gửi theo địa chỉ các đối tượng cung cấp. Sau khi cộng tác viên hoàn thành sản phẩm và chuyển lại thì lấy lý do sản phẩm lỗi, không nghe điện thoại hoặc chặn liên lạc trên mạng xã hội để chiếm đoạt số tiền các cộng tác viên đã chuyển mua nguyên liệu trước đó.

Các đối tượng giúp sức hoạt động độc lập với nhau, không có sự tương tác, giúp sức lẫn nhau trong quá trình tuyển dụng và chiếm đoạt tiền của cộng tác viên.

Đối tượng giúp sức tuyển dụng cộng tác viên nào thì có trách nhiệm gửi sản phẩm, đánh giá sản phẩm lỗi, chặn liên lạc và từ chối đơn hàng để chiếm đoạt tiền của cộng tác viên đó. Lê Văn H, Trần Thị T2 sẽ trả thù lao trực tiếp cho mỗi đối tượng giúp sức trên cơ sở số lượng cộng tác viên các đối tượng này tuyển dụng và số tiền nguyên liệu thu trước của cộng tác viên.

Hàng ngày, Trần Thị T2 là người quản lý và theo dõi các đơn hàng của các đối tượng giúp sức. Các đối tượng giúp sức sẽ báo lại cho T2 số lượng đơn hàng chốt được của cộng tác viên trong ngày để T2 ghi vào sổ theo dõi. Hằng tháng, T2 sẽ thống kê xem mỗi đối tượng giúp sức gửi được bao nhiêu đơn hàng, loại gì, bao nhiêu đơn bị hủy (cộng tác viên không nhận nguyên liệu), bao nhiêu đơn gửi ship về (cộng tác viên gửi thành phẩm đến) để tính tiền công thanh toán cho các đối tượng này. Đồng thời, T2 ghi chép lại hàng ngày nhóm của Bùi Văn T3 lấy bao nhiêu đơn hàng gửi cho cộng tác viên để cuối tháng tính số tiền T3 phải thanh toán cho mình. Lê Văn H là người quản lý nguồn tiền do các cộng tác viên chuyển thông qua dịch vụ thu hộ của Bưu điện; H sẽ rút tiền từ Bưu điện thì sẽ chuyển cho T2 để thanh toán tiền cho các đối tượng giúp sức (mức thanh toán tùy thuộc từng đối tượng, dao động trong khoảng từ 100.000đồng đến 200.000đồng/01 đơn hàng).

Đối với Bùi Văn T3 ngoài việc thực hiện hành vi giúp sức cho vợ chồng H, T2 thì bản thân T3 còn thuê riêng Nguyễn Thị T6, sinh năm 2003 ở tổ dân phố T, thị trấn V, huyện LVũ Bích P1, sinh năm 2002 ở thôn M, xã T làm việc cho mình. Bùi Văn T3 lấy nguyên liệu từ H, T2 rồi cung cấp cho T6P1, đồng thời hướng dẫn hai đối tượng cách thức, thủ đoạn để chiếm đoạt tiền của các bị hại.

Kết quả điều tra xác định, Lê Văn H và các đồng phạm sử dụng các tài khoản Bưu điện; tài khoản mạng xã hội và số điện thoại để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như sau:

  • Tháng 9/2021, Lê Văn H đăng ký sử dụng tài khoản mã 23400A04000574000 của Tổng Công ty B lấy tên S “Nhật Trung” để gửi đơn hàng cho các cộng tác viên; sử dụng tài khoản Facebook Nhật Trung, N, Tuất K2; tài khoản Z1; số điện thoại 0347.109.xxx; hợp đồng lao động tên người đại diện là ông Lê Văn H và bà Trần Thảo L.
  • Trần Thị T2 sử dụng tài khoản Facebook Thảo L1, Thảo M, Trần T2, Linh Đ, Ly Ly T7, Trang T8; tài khoản Zalo Gái Họ T8, M1 niềm tin; số điện thoại 0327.396.xxx; 0822.278.522; 0345.011.991, 0865.816.441; hợp đồng lao động tên người đại diện là ông Lê Văn H và bà Trần Thảo L.
  • Tháng 2/2022, Bùi Văn T3 đăng ký sử dụng tài khoản S19604642 của Công ty Cổ phần G lấy tên S “An Bình” để gửi đơn hàng cho các cộng tác viên; sử dụng tài khoản Facebook Ngân Khánh, Bùi Văn T3; số điện thoại 0877.683.xxx, 0973.591.881; hợp đồng lao động tên người đại diện là bà Hoàng Thị Ngọc H4.
  • Nguyễn Thị H2 sử dụng tài khoản Facebook Nguyễn Minh H5, Bích Lan L2, Minh H5, Hoàng P2, Nguyễn Hữu S1, Hoàng S2, Nguyễn T9, A, Q, Linh X, Mỹ N; tài khoản Zalo Minh H6, Gia C Tại Nhà, Xưởng Gia C1 Tại Nhà; số điện thoại 0329.023.xxx, 0968.871.864, 0344.520.937, 0566.067.649, 0945.565.296, 0975.341.146; hợp đồng lao động tên người đại diện là bà Hải Y.
  • Đinh Thị T5 sử dụng tài khoản Facebook tên Diễm M2, Yến N1, Thảo C2; tài khoản Zalo Thảo T10, số điện thoại 0344.505.xxx, 0337.132.350; 02 hợp đồng tên người đại diện là bà Đinh Thị T5 và bà Diễm M2.
  • Vũ Thị K1 sử dụng tài khoản Facebook Khuyên V, Vũ K1, Thân Thủy T11; tài khoản Zalo K, L; số điện thoại 0963.349.xxx, 0363.487.391; hợp đồng lao động tên người đại diện là bà Vũ Thị K1.
  • Đỗ Văn K sử dụng tài khoản Facebook Đỗ K, Đỗ Văn K, Thế V1, Huyền M3, Minh Quang T12, Phương M4, Trang N2, Thu H7, Kim C3; tài khoản Zalo Đỗ Văn K, số điện thoại 0962.005.xxx; 02 hợp đồng lao động tên người đại diện là ông Đỗ Văn K và ông Thế V1.
  • Thân Văn H3 sử dụng tài khoản Facebook Thân Văn H3, T, Ngọc H8, Đỗ K3; tài khoản Z2; số điện thoại 0969.590.xxx, 0586.077.039; 02 hợp đồng lao động tên người đại diện là ông Thân Văn H3 và bà Nguyễn Ngọc H9.
  • Vũ Bích P1 sử dụng tài khoản Facebook Mít Mít, T, Chi P3, Lâm L3; tài khoản Zalo Hoàng Thị Ngọc H4; số điện thoại 0862.684.xxx và 0384.644.672. Đồng thời P1 được Bùi Văn T3 giao cho nhiệm vụ đánh giá từ chối thu mua thành phẩm khi cộng tác viên gửi về; hợp đồng lao động tên người đại diện là bà Hoàng Thị Ngọc H4.

Số tiền các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại được xác định như sau:

  • Lê Văn HTrần Thị T2 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 317 bị hại với tổng số tiền là 144.560.000đ.
  • Bùi Văn T3 chiếm đoạt của 47 bị hại với tổng số tiền là 21.150.000đ.
  • Đỗ Văn K chiếm đoạt của 35 bị hại với tổng số tiền là 15.950.000đ.
  • Thân Văn H3 chiếm đoạt của 21 bị hại với tổng số tiền là 9.450.000đ.
  • Đinh Thị T5 chiếm đoạt của 17 bị hại với tổng số tiền là 7.530.000đ.
  • Vũ Thị K1 chiếm đoạt của 16 bị hại với tổng số tiền là 7.050.000đ.
  • Nguyễn Thị H2 chiếm đoạt của 13 bị hại với tổng số tiền là 5.850.000đ.
  • Vũ Bích P1 chiếm đoạt của 08 bị hại với tổng số tiền là 3.600.000đồng.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 01/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Lê Văn H, Trần Thị T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 174 BLHS. Các bị cáo Bùi Văn T3, Đỗ Văn K, Thân Văn H3, Đinh Thị T5, Vũ Thị K1, Nguyễn Thị H2Vũ Bích P1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Với nội dung nêu trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HS-ST ngày 26/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Lạng Giang đã xét xử và quyết định:

  • Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lê Văn H 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2022 đến ngày 08/02/2023.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Văn T3 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn quyết định xử phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/6/2023 bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3 làm đơn kháng cáo có cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; lý do trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội khắc phục hậu quả cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/8/2024 bị cáo Lê Văn H nộp 5.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại, 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 489.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; ngày 12/8/2024 bị cáo Bùi Văn T3 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 353.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm và ngày 22/8/2024 nộp 2.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà phúc thẩm, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nội dung kháng cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3. Sửa bản án sơ thẩm. Giảm mức hình phạt tù cho: Bị cáo Lê Văn H từ 03 năm tù xuống 02 năm 06 tháng tù; bị cáo Bùi Văn T3 từ 09 tháng tù xuống 06 tháng tù.

Về án phí phúc thẩm: Đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3 nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình, cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3, HĐXX thấy: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2022 đến tháng 5/2022, Lê Văn H, Trần Thị T2 và các đối tượng giúp sức là Bùi Văn T3, Thân Văn H3, Đỗ Văn K, Vũ Thị K1, Đinh Thị T5, Nguyễn Thị H2Vũ Bích P1 có hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook, Z dựa ra thông tin gian dối về cơ hội việc làm hấp dẫn, mức thu nhập cao để tuyển dụng cộng tác viên trên địa bàn nhiều tỉnh trong cả nước. Sau khi cộng tác viên tham gia làm việc, chuyển khoản cho các đối tượng số tiền thu trước để mua nguyên liệu thông qua dịch vụ thu hộ của ngành Bưu điện (từ 450.000 đồng - 500.000 đồng/1 cộng tác viên) và chuyển lại sản phẩm hoàn thiện thì các đối tượng dùng thủ đoạn đánh giá hàng lỗi, không nghe điện hoặc chặn liên lạc trên mạng xã hội để chiếm đoạt số tiền này. Cụ thể bằng các hành vi như trên, các bị cáo đã chiếm đoạt được của bị hại, cụ thể:

- Lê Văn HTrần Thị T2 có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của 317 bị hại với tổng số tiền là 144.560.000đồng.

- Bùi Văn T3 có hành vi giúp sức cho vợ chồng H, T2 lừa đảo chiếm đoạt của 47 bị hại với tổng số tiền là 21.150.000đồng.

Vì vậy bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và Bùi Văn T3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm tội quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần áp dụng một hình phạt tù có thời hạn để giáo dục riêng và phòng ngừa chung về tội phạm.

[3]. Xét về tính chất của vụ án, vai trò, vị trí của các bị cáo kháng cáo, HĐXX nhận thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17, Điều 58 BLHS. Bị cáo Lê Văn H là người trực tiếp đứng ra thuê các bị cáo làm việc cho mình, chỉ đạo các bị cáo đăng tải thông tin, video hướng dẫn để câu dẫn bị hại nên bị cáo có vai trò chính, bị cáo Bùi Văn T3 là người giúp sức tích cực cho vợ chồng H do vậy bị cáo có vai trò thứ yếu nên HĐXX áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, quá trình điều tra và tại các phiên toà, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo Bùi Văn T3 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân T3 từng tham gia trong Quân đội, T3 có bố là người được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang; bị cáo Lê Văn H có ông nội là người có công được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì; Lê Văn HBùi Văn T3 sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp một phần tiền để khắc phục hậu quả. Do vậy, Lê Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo Bùi Văn T3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/8/2024 bị cáo Lê Văn H nộp 5.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại; ngày 22/8/2024 bị cáo Bùi Văn T3 nộp 2.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, cùng ngày 12/8/2024, bị cáo Lê Văn H đã nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 489.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm; cùng ngày 12/8/2024 bị cáo Bùi Văn T3 nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 353.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm, điều đó thể hiện thái độ và ý thức chấp hành pháp luật đối với các bị cáo.

[6]. Xét về tiền án của các bị cáo thì thấy: Bị cáo Lê Văn H có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Bùi Văn T3: Tại Quyết định số 125 ngày 22/7/2021, Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính số tiền phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/8/2021 T3 chấp hành xong tiền phạt.

[7]. Do các bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm nên HĐXX chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang đã đề nghị tại phiên toà phúc thẩm.

[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[9]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3. Sửa bản án sơ thẩm, giảm mức hình phạt tù cho các bị cáo.

  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lê Văn H 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian đã bị bắt tạm giam từ ngày 16/9/2022 đến ngày 08/02/2023.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Văn T3 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Văn HBùi Văn T3 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Về xử lý tiền đã nộp về trách nhiệm dân sự và tiền án phí:

  • Xác nhận bị cáo Lê Văn H đã nộp 5.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại, 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 489.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0002701 ngày 12/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
  • Xác nhận bị cáo Bùi Văn T3 đã 2.000.000đ tiền trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại theo biên lai thu số 0002703 ngày 22/8/2024 và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm, 353.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu số 0003000 ngày 12/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TAND huyện Lạng Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Nâu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-PT ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 152/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSPT - Le Van H va dong pham - Lua dao cdts
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger