|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:152/2024/HSST Ngày 22/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Thoại
2. Ông Nguyễn Viết Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Đình Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 150/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Gia Đ, sinh năm 1990 tại Nam Định; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên bố: Đinh Gia T; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1; Bị cáo có vợ là Trần Thị H, sinh năm 1998, có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú ngày 28/5/2024, tạm giữ đến 31/5/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Chị Vi Thị T2- Sinh: 13/8/2005.
Nơi cư trú: Bản Pủng, Lưu K, T, Nghệ An.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thanh N, sinh năm 1982
Nơi cư trú: P702- Số A phố P, quận T, Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/9/2022, Công an xã P tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Văn B- Sinh: 2002, trú tại: Thôn Đ, Đ, G, Hà Nội (là quản lý quán K1 ở địa chỉ số C đường Ỷ, Đ, G) về việc: là nhân viên phục vụ tại quán Karaoke hiện đang thuê trọ ở thôn H, xã P, G bị Nguyễn Hoàng G- Sinh: 1990, trú tại: thôn N, Y, Ý, Nam Định và Đinh Gia Ð- Sinh: 1990, trú tại: thôn A, Y, Ý, Nam Định đưa lên xe taxi đưa về Nam Định để giao cho một người khác quản lý.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng tháng 6/2022, chị Vi Thị T2 đến làm nhân viên phục vụ rót bia, bấm bài cho khách hát tại các quán Karaoke theo sự quản lý của Nguyễn Hoàng G. Cùng làm với T2 còn có Vi Thị T3- Sinh: 08/3/2005 và Kha Thị Đ1- Sinh 2003 đều trú tại: Bản P, L, T, Nghệ An. G thuê nhà trọ ở thôn H, P, G, Hà Nội để cho nhân viên ở. G giao cho Đ quản lý, đưa đón nhân viên nữ đi làm. Quá trình mới đến xin việc, do không có điện thoại sử dụng nên T2 có vay G số tiền 13.500.000 đồng để mua điện thoại và hai bên thống nhất tiền công T2 đi làm sẽ trừ vào số tiền nợ trên. Khoảng đầu tháng 9/2022, G nghe Đ thông báo T2 có quan hệ tình cảm với Nguyễn Văn B và lười không chịu đi làm. Lúc này, G yêu cầu T2 đưa điện thoại để bán lấy tiền trả nợ. Sau khi bán điện thoại xong, G thông báo cho T2 biết bán được số tiền 9.500.000 đồng và sẽ trừ vào số nợ mà T2 còn thiếu thì T2 cũng đồng ý.
Khoảng 22h ngày 8/9/2022, chị T2 mượn điện thoại của bạn cùng phòng là Vi Thị T3- Sinh: 08/3/2005, trú tại: Bản P, Lưu K, T, Nghệ An nhắn tin cho G qua ứng dụng Messenger để xin nghỉ làm nhưng G không đồng ý với lý do không báo trước. G bảo T2 nếu muốn nghỉ làm thì T2 phải nộp 10.000.000 đồng tiền phạt cho G do G tự đặt ra từ trước. Sau đó, G về phòng trọ tại thôn H, xã P, G rủ tất cả nhân viên nữ đi ăn thì T2 không đi ăn cùng mọi người mà ở lại phòng trọ một mình. Đoàn thấy vậy, khóa cửa cổng phòng trọ lại cùng G và mọi người đi ăn. Nhưng G sợ T2 bỏ trốn cùng B nên G bảo Đ quay lại phòng trọ trông coi, giám sát không để T2 bỏ trốn cùng B. Đ đồng ý không đi ăn nữa và quay lại ở phòng trọ trông giữ T2. Trong lúc Đ và T2 ở phòng trọ thì T2 có nói cho Đ biết việc T2 muốn xin nghỉ làm thì G bảo phải nộp cho G 10.000.000 đồng. Trong lúc này thì B đến phòng trọ gặp T2 thì T2 và B đứng nói chuyện ở ngoài cổng (cổng không khóa) còn Đ vẫn ngồi trong phòng để ý đến T2. T2 có nói với B việc T2 muốn xin nghỉ làm thì G bắt T2 phải nộp cho G 10 triệu đồng. B nghe T2 nói xong thì B đi về, Đ lại nhắn tin nói cho G biết việc B đến gặp T2 nhưng thấy Đ ở phòng nên B về. Khoảng 00h ngày 09/9/2022, G cùng mọi người đi ăn xong quay về phòng trọ, G bảo Đ đưa điện thoại cho T2 gọi điện cho anh B nói về việc nếu B muốn đưa T2 đi thì phải đưa cho G số tiền 10.000.000 đồng nếu không thì G sẽ chuyển T2 đi làm ở nơi khác. G giằng lấy điện thoại mà T2 mượn của Đ để nói chuyện với B, yêu cầu B không được can thiệp vào công việc của G, nếu B không đến đón T2 thì G sẽ chuyển T2 đến đầu dịch vụ khác, B nghe xong không đến đón T2 thì G nói với T2 “cho mày 5 phút để dọn đồ”, T2 sợ nên xách vali quần áo đi ra ngoài cửa xong không muốn bị đưa xuống Nam Định để làm nên T2 không lên xe tắc xi. Thấy vậy, G chỉ tay quát T2 “Con này bước lên xe”. Do sợ nên T2 đã lên xe ô tô để G cùng L- Sinh: 1989, quê ở L, Hải Phòng đưa T2 xuống Nam Định. Khi đến Nam Định, G gọi điện cho Phan Văn H1- Sinh: 1985, trú tại: thôn T, Y, Ý, Nam Định bảo ra đón. Sau đó H1 đón G, T2 và L vào nhà trọ của Nguyễn Huy H2- Sinh: 2000, trú tại: Y - Ý - Nam Định (cũng là quản lý gái dịch vụ). Lúc này, H2 đưa T2 lên phòng để ngủ còn G và L đi về Hà Nội. Khoảng 4h ngày 09/9/2022, T2 mượn điện thoại của một nhân viên nữ ở chỗ H2 gọi điện thoại cho B nói T2 đã bị G đưa xuống Nam Định chuyển cho đầu dịch vụ khác và nhờ B báo cơ quan Công an. Đến khoảng 14h cùng ngày, H2 đưa T2 thuê xe khách để đi về quê.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với Đoàn Ngày 29/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị cáo Đinh Gia Đ về hành vi “Giữ người trái pháp luật" theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự. Đền ngày 28/5/2024, Đ đến Công an huyện G đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đinh Gia Đ đã khai nhận việc trông giữ chị Vi Thị T2 ở phòng trọ là do sợ chị T2 bỏ trốn; Giữa Đ và G không có sự bàn bạc, thỏa thuận với nhau trong việc giữ T2 để lấy 10 triệu của T2. Xét thấy lời khai của Đ phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng củng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên không đủ căn cứ xử lý Đ đồng phạm với G về tội Cưỡng đoạt tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý Đ về tội Cưỡng đoạt tài sản.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng G đã bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xét xử tại Bản án số 85/HSST ngày 23/5/2024 về tội "Giữ người trái pháp luật” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự và tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại Bản án số 85/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử bị cáo Nguyễn Hoàng G, người bị hại là chị Vi Thị T2 đề nghị bị cáo phải bồi thường số tiền 8.000.000 đồng tổn thất tinh thần do hành vi Giữ người trái pháp luật của bị cáo gây ra. Chị T2 đã nhận được số tiền 8.000.000 đồng từ gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng G và không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 146/CT-VKSGL ngày 31 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố Đinh Gia Đ về tội “Giữ người trái pháp luật" theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Đinh Gia Đ khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi “Giữ người trái pháp luật" như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thanh N là người tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại thay cho các bị cáo xác nhận đã nhận số tiền 4.000.000 đồng từ gia đình bị cáo Đ tại thời điểm trước khi mở phiên tòa và không yêu cầu đề nghị gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Đinh Gia Đ phạm tội “Giữ người trái pháp luật".
- - Áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 157; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- - Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Gia Đ với mức án từ 24 tháng tù đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 48 đến 52 tháng, kể từ ngày tuyên án
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường nên đề nghị không xem xét.
Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Gia Đ không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ ngày 08/9/2022 tại thôn H, P, G, bị cáo Đinh Gia Đ là nhân viên của Nguyễn Hoàng G với công việc quản lý gái dịch vụ do sợ chị Vi Thị T2 bỏ trốn không làm việc cho G nên G chỉ đạo Đinh Gia Đ trông coi, giám sát, giữ chị T2 không cho đi đâu đến rạng sáng ngày 09/9/2022. Do đó, hành vi của bị cáo Đinh Gia Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giữ người trái pháp luật", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự .
Điều 157: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật:
1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...
e) Đối với người dưới 18 tuổi, ...
Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền tự do đi lại, dịch chuyển thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ; được thể hiện ở hành vi không cho người khác di chuyển hoặc đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi Giữ người trái pháp luật. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đi xuất khẩu lao động tại nước Nga, không biết Cơ quan Công an khởi tố vụ án, khởi tố bị can và không biết bị Cơ quan Công an ra quyết định truy nã. Khi biết có quyết định truy nã đã về nước và ra cơ quan Công an đầu thú. Bị cáo đã tác động về gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; Người bị hại đã nhận tiền bồi thường tổn thất về tinh thần và có đơn đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn: Vợ bị cáo đã bỏ nhà đi và để lại con nhỏ, bị cáo đang phải chăm sóc, nuôi dưỡng bố bị cáo là ông Đinh Gia T đang bị bệnh hiểm nghèo và mẹ bị cáo thường xuyên ốm đau không lao động được. Bị cáo là lao động chính trong gia đình nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Nguyễn Hoàng G thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người khởi xướng. Bị cáo Đinh Gia Đ với vai trò là giúp sức, thực hành tích cực nên Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cân nhắc khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo phù hợp với quy định pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và cho bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, làm ăn lương thiện.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường dân sự nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I; mục II Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[7]. Bị cáo, Bị hại, Người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự. Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1]. Xử phạt: Bị cáo Đinh Gia Đ 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đinh Gia Đ cho UBND xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[4]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cồ Khắc Đam |
Bản án số 152/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về giữ người trái pháp luật (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 152/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Giữ người trái pháp luật (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đ giữ người trái pháp luật
