|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 152/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dũng
- Bà Đỗ Thị A
- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Huy L (tên gọi khác: Ty); sinh ngày: 03/3/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân T (chết) và bà: Nguyễn Thị M; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q.
(Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Chị Phạm Thị Yến V, sinh năm 2003 (vắng mặt).
Địa chỉ: A T, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, bà Phạm Thị Yến V chạy xe máy hiệu Honda Vission màu đen nhám, biển số 38H1-347.98 đến nhà 163 Vĩnh Viễn P Quận A để xe tại hẻm bên hông nhà, không có khóa cổ xe. Bà V cùng bạn đi chơi đến khoảng 04 giờ ngày 02/6/2024 về nhà thì phát hiện xe biển số 38H1-347.98 đã bị mất. Bà V đã đến Công an Q trình báo sự việc. Công an Q, Quận A hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 1225/KL-HĐĐGTS ngày 27/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tài sản trong tố tụng Ủy ban nhân dân Quận A kết luận: xe máy biển số 38H1-347.98, vào thời điểm ngày 02/6/2024 có giá trị là 25.000.000 đồng.
Qua quá trình truy xét, ngày 13/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố, bắt tạm giam đối với bị cáo Nguyễn Huy L về tội “Trộm cắp tài sản".
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo L khai nhận: Với mục đích đi lấy trộm tài sản của người khác bán lấy tiền để tiêu xài, khoảng 03 giờ ngày 02/6/2024, bị cáo Nguyễn Huy L điều khiển xe máy hiệu Honda Click biển số 51X3-1421, chạy lòng vòng qua các tuyến đường tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đến hẻm bên hông nhà số A V, Phường D, Quận A, L nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda-Vision, biển số 38H1-347.98 không có người trông coi. Bị cáo L gửi xe biển số 51X3-1412 tại siêu thị F, địa chỉ A V, Phường D, Quận A, sau đó đi bộ quay lại đến xe biển số 38H1-347.98 dùng hai tay đẩy lùi xe ra khỏi hẻm và tiếp tục dẫn xe đến gửi vào bãi xe Chung cư L, Cư xá Đ, Phường A, Quận C, do ông Nguyễn Văn C, là quản lý. Sau đó, bị cáo L đi bộ về lại siêu thị F lấy xe biển số 51X3-1421 chạy đi ngủ tại vĩa hè Phường D, Quận E. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo L chạy xe biển số 51X3-1421 gửi vào bãi giữ xe và lấy xe biển số 38H1-347.98 dẫn đến tiệm làm chìa khóa của ông Liêu Chí D, ở đầu hẻm B L, Phường A, Quận C làm chìa khóa xe. Sau khi làm chìa khóa xe, bị cáo L điều khiển xe đi ra Công viên P, Quận F, để bán xe cho một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 8.000.000 đồng và hiện đã tiêu xài hết số tiền trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) xe máy hiệu Honda Click, màu đen, gắn biển số: 51X3-1421. Qua xác minh do bà Trần Thị Bích H đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà H khai tháng 09/2018 bà H đã cho lại cháu ruột tên Lê Quốc T1 sử dụng xe trên để đi học. Ngày 06/5/2024, T1 báo cho bà H biết đã bị mất xe khi để xe tại nhà trọ số A C, Quận C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q chuyển chiếc xe mô tô hiệu Honda Click, màu đen, số khung: RLHJF18028Y030210, số máy: JF18E- 0109527 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý theo thẩm quyền.
- Biển số xe 51X3-1421 cấp cho xe nhãn hiệu Ware, màu xanh, do ông Nguyễn Công D1 làm chủ sở hữu; Năm 2005 ông D1 đã bán xe cho người không quen biết (không biết nơi ở), không có làm giấy tờ mua bán.
- 01 USB có lưu hình ảnh camera quay được hình ảnh của Nguyễn Huy L trộm cắp xe gắn máy của bà V.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, số emei: 354914095764829, đã qua sử dụng: Nguyễn Huy L khai là tài sản cá nhân của L mua sử dụng.
- 01 (một) quần Jean, ống dài màu xám và 01 (một) áo khoác, có mũ chụp đầu màu xám: là quần và áo của L mua và mặc khi thực hiện hành vi lấy trộm xe gắn máy.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
Về dân sự: Bà V yêu cầu bị cáo Nguyễn Huy L bồi thường số tiền 25.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKSQ10 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Nguyễn Huy L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng) đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Nguyễn Huy L từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Huy L đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe môtô xe máy hiệu Honda Vission mày đen nhám, biển số 38H1-347.98 có giá trị 25.000.000 đồng. Do vậy, bị cáo Nguyễn Huy L bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Huy L bồi thường số tiền 25.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Huy L đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, việc bị cáo đồng ý bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với 01 USB có lưu hình ảnh camera quay được hình ảnh của Nguyễn Huy L trộm cắp xe gắn máy của bà V (lưu hồ sơ vụ án).
Đối với 01 (một) xe máy hiệu Honda Click, màu đen, gắn biển số: 51X3-1421. Qua xác minh do bà Trần Thị Bích H đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Bà H khai tháng 09/2018 bà H đã cho lại cháu ruột tên Lê Quốc T1 sử dụng xe trên để đi học. Ngày 06/5/2024, T1 báo cho bà H biết đã bị mất xe khi để xe tại nhà trọ số A C, Quận C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q chuyển chiếc xe mô tô hiệu Honda Click, màu đen, số khung: RLHJF18028Y030210, số máy: JF18E- 0109527 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với biển số xe 51X3-1421. Qua xác minh được cấp cho xe nhãn hiệu Ware, màu xanh, do ông Nguyễn Công D1 làm chủ sở hữu; Năm 2005 ông D1 đã bán xe cho người không quen biết (không biết nơi ở), không có làm giấy tờ mua bán. Xét thấy biển số trên được gắn trên xe mô tô không cùng đăng ký sở hữu nên thuộc trường hợp lưu hành bất hợp pháp. Do vậy Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, số emei: 354914095764829, đã qua sử dụng: Nguyễn Huy L khai là tài sản cá nhân của L mua sử dụng. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo nhưng cần kê biên để bảo đảm cho việc thi hành án.
Đối với 01 (một) quần Jean, ống dài màu xám và 01 (một) áo khoác, có mũ chụp đầu màu xám: là quần và áo của L mua và mặc khi thực hiện hành vi lấy trộm xe gắn máy. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị, bị cáo không nhận lại nên Hội đồng xét xử tịch thu và tiêu hủy.
[6] Về án phí hình sự + dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy L 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024.
Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Huy L.
Buộc bị cáo Nguyễn Huy L phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại bà Phạm Thị Yến V số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) quần Jean, ống dài màu xám, 01 (một) áo khoác, có mũ chụp đầu màu xám và biển số xe 51X3-1421
Kê biên 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, số emei: 354914095764829 của bị cáo Nguyễn Huy L để bảo đảm cho việc thi hành án.
(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/11/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Nguyễn Huy L chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.250.000 (một triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 152/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy Long phạm tội Trộm cắp tài sản
