Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 152/2025/DS-PT

Ngày 04- 4- 2025

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng

Bà Đinh Cẩm Đào

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 595/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số:104/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn bị kháng cáo.

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1947.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Chí H1, sinh năm 1994 (văn bản ủy quyền được chứng thực ngày 03/6/2024, có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Mỹ S - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Tạ Thị X, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Tạ Thị Đ, sinh năm 1962 (văn bản ủy quyền được chứng thực ngày 04/6/2024, có mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đặng Minh T - Chi nhánh Luật sư Đặng Minh T - Trưởng Chi nhánh Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn M thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

Địa chỉ: Đường P, khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Tạ Thị Đ, sinh năm 1962 (có mặt).
  • Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  • - Bà Tạ Thị Đ1, sinh năm 1972 (có mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
  • - Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987 (chồng chị X).
  • Đăng ký thường trú: Ấp A, thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
  • Nơi cư trú: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của anh K: Bà Tạ Thị Đ, sinh năm 1962 (văn bản ủy quyền được chứng thực ngày 04/6/2024, có mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Bà Trần Thị H là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Thị H, người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Chí H1; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn thống nhất trình bày:

Bà H có phần đất ở ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Vào tháng 01/2024, bà H phát hiện chị Tạ Thị X cất nhà lấn qua phần đất của bà với diện tích là 92,61m²(chiều ngang mặt tiền giáp QL1A là 1,2m; ngang mặt hậu giáp Kênh Đồn là 1,4m; chiều dài 71,24m) qua đo đạc thực tế là 127,2m², theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 14/6/2024 của Công ty TNHH P, căn nhà hiện nay do bà Tạ Thị Đ1 sử dụng và quản lý.

Nguồn gốc phần đất: Bà H nhận chuyển nhượng và được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 07/8/2000, do bà H đứng tên quyền sử dụng với diện tích 20.800m², tọa lạc ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Năm 2020, bà H chuyển nhượng cho chị X một phần đất diện tích 165,7m², chiều ngang 03m, chiều dài 71m, giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 30.000.000 đồng, giá thực tế 210.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng các bên có lập hợp đồng và đã chuyển tên quyền sử dụng cho chị X đối với phần đất này. Khi chuyển nhượng thì các bên có đo đạc thực tế, có cặm mốc, ranh và thống nhất diện tích, vị trí. Chồng bà H tên Đinh Việt H2 (mất cuối năm 2021), bà H với phía chị X đều có xem qua các hợp đồng, bản xác định ranh giới và đều thống nhất ký tên. Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì bà H, chị X và anh K đều tự giữ lấy và không có thế chấp vay tiền.

Đến năm 2024, khi bà H cắt chia đất thực tế cho cháu tên Đặng Thị Thùy T1 mới phát hiện diện tích mà bà H chuyển nhượng cho chị X thực tế sai lệch với bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 17/11/2020 mà bà Trần Thị H, chị Tạ Thị X và anh Nguyễn Văn K đã ký trước đó.

Ngoài ra, năm 2020 bà H có cho bà Đ1 40cm đất mặt hậu nhưng không làm văn bản.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất tranh chấp có diện tích qua đo đạc thực tế là 127,2m², theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 14/6/2024 của Công ty TNHH P, nguyên đơn trừ đi phần chênh lệch tính theo tỷ lệ %, diện tích đất tranh chấp còn lại là 108,8m² tọa lạc ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau (đất do bà Đ1 quản lý). Nguyên đơn không yêu cầu chị X và bà Đ1 tháo dỡ nhà trả lại đất mà chỉ yêu cầu trả lại giá trị phần đất lấn chiếm bằng 113.560.550 đồng; về chi phí tố tụng yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn Chị Tạ Thị X và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn K thống nhất trình bày:

Chị Tạ Thị X không đồng ý tháo dỡ căn nhà và trả lại hiện trạng phần đất theo yêu cầu của bà H vì năm 2020, bà H chuyển nhượng cho chị một phần đất diện tích 165,7m², chiều ngang 03m, chiều dài 71m, giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 30.000.000 đồng, giá thực tế 210.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng các bên có lập hợp đồng, có đo đạc thực tế, có cặm ranh và thống nhất diện tích, vị trí, tứ cận như bà H trình bày và đã chuyển tên quyền sử dụng cho chị X. Chị X cất nhà năm 2021, lúc này bà H và chồng là ông Đinh Việt H2 (đã mất cuối năm 2021) có qua đo đạc và xác định đúng phần đất đã chuyển nhượng. Khi nhận giấy chứng nhận QSD đất thì chị X không biết có sự sai lệch với diện tích đất thực tế nhận chuyển nhượng.

Cùng thời điểm năm 2020, chị X có nhận chuyển nhượng thêm của bà Trần Kiều M1 (cùng địa chỉ) một phần đất chiều ngang 07m, chiều dài từ mặt tiền giáp Quốc lộ A đến mặt hậu giáp Kênh Đồn. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông H2 (chồng bà H) là người trực tiếp đi làm các giấy tờ chuyển nhượng. Chị X cất nhà chiều ngang 4,9m, chiều dài trên 35m; phần đất còn lại ngang 2m, chiều dài trên 70m (từ tiền tới hậu) thì chị X cho bà Tạ Thị Đ1 (dì ruột) mượn để cất nhà.

Do đó, Không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì tại biên bản hòa giải ngày 25 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn thừa nhận sang cho chị X 03m đất đo ngang; chị X nhận chuyển nhượng đất để cất nhà, khi cất nhà, có sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương (ông D – Nguyên Trưởng ban N), ông H2, bà H và các người khác đều xác định nhà chị X và bà Đ1 cất nhà trên diện tích đất nhận chuyển nhượng, không lấn chiếm đất của bà H. Diện tích đo đạc thực tế của chị X lớn hơn diện tích đất trong giấy chứng nhận do phía chị X bồi đắp kéo dài ở mặt hậu. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chi phí tố tụng yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị Đ1 trình bày:

Thống nhất lời trình bày của chị X là đúng, năm 2020, bà Đ1 cất nhà nhưng thời điểm này đất của bà có chiều ngang 03m, dài trên 70m (từ tiền Quốc lộ A tới hậu giáp Kênh Đồn); do không đủ diện tích cất nhà nên bà mượn của chị X một phần đất ngang 2m, chiều dài trên 70m (từ tiền tới hậu). Toàn bộ phần đất của bà Đ1 đã giao cho chị X đứng tên quyền sử dụng (vì 03m đất chiều ngang không đủ tách thửa). Bà Tạ Thị Đ1 không đồng ý trả lại phần đất tranh chấp theo yêu cầu của bà H. Yêu cầu Tòa án xác định phần đất thực tế của các bên. Ngoài ra bà H có cho bà Đ1 40cm đất chạy từ mặt tiền đến mặt hâu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị Đ trình bày:

Năm 2020, chị X có nhận chuyển nhượng của bà Trần Kim M2 (cùng địa chỉ) một phần đất chiều ngang 07m, chiều dài từ mặt tiền giáp Quốc lộ A đến mặt hậu giáp Kênh Đồn, giá chuyển nhượng bà Đ không nhớ rõ.

Cùng năm 2020, bà H chuyển nhượng cho chị X và anh K một phần đất diện tích 165,7m², chiều ngang 03m, chiều dài 71m, giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 30.000.000 đồng, giá thực tế 210.000.000 đồng (một mét ngang chạy dài 71m = 70.000.000 đồng). Khi chuyển nhượng các bên có lập hợp đồng và đã chuyển tên quyền sử dụng cho bà X đối với phần đất này. Khi chuyển nhượng thì các bên có đo đạc thực tế, cặm mốc, ranh và thống nhất diện tích, vị trí, tứ cận đúng như chị X, bà H trình bày.

Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông H2 (chồng bà H) là người trực tiếp đi làm các giấy tờ chuyển nhượng.

Chị X cất nhà năm 2021, lúc này bà H và chồng tên Đinh Việt H2 có qua đo đạc và xác định đúng phần đất chuyển nhượng. Khi nhận giấy chứng nhận QSD đất thì chị X không biết có sự sai lệch với diện tích thực tế đất nhận chuyển nhượng.

Chị X cất nhà chiều ngang 4,9m, chiều dài trên 35m; Phần đất còn lại ngang 2m, chiều dài trên 70m (từ tiền tới hậu) thì chị X cho bà Tạ Thị Đ1 (dì ruột) mượn để cất nhà. Phần mặt hậu phía nhà của chị X vẫn để trống. Căn nhà của chị X cất xong thì giao lại cho mẹ ruột là bà Tạ Thị Đ sinh sống từ đó đến nay. Khi sinh sống trong nhà thì bà Đ không có đầu tư, cải tạo gì thêm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số:104/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024

của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn quyết định:

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc buộc chị Tạ Thị X trả lại giá trị diện tích phần đất lấn chiếm là 108,05m², tọa lạc ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau bằng 113.560.550 đồng.

- Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị H phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng thửa đất là 9.215.100 đồng, chi phí thẩm định giá là 6.264.000 đồng, tổng cộng bằng 15.479.100 đồng, bà H đã đăng nộp cho Công ty X1.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 18/11/2024, bà Trần Thị H có đơn kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Tạ Thị X phải trả cho bà diện tích đất bị lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 108.05m², giá trị là 113. 560.000 đồng, không yêu cầu dỡ nhà, trả đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn; người đại diện theo uỷ quyền; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất thay đổi một phần nội dung kháng cáo, cụ thể: Yêu cầu chị Tạ Thị X trả lại diện tích phần đất lấn chiếm là 108,05m², tọa lạc ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Do phần đất tranh chấp có diện tích nhỏ nên việc yêu cầu dỡ nhà, trả đất là không cần thiết nên yêu cầu chị X trả theo giá trị với số tiền bằng 113.560.550 đồng. Không đồng ý với lời trình bày của bị đơn cho rằng, ông H2 chồng bà H đi làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho chị X, dẫn đến làm sai lệch dịên tích nhận chuyển nhượng. Chị X đã cất giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ khi được cấp cho đến nay và không có ý kiến gì, nên việc sai lệch diện tích đất có lỗi của bị đơn. Ngoài ra, không có việc khi bị đơn cất nhà ông H2, bà H qua chỉ ranh đất, cậm trụ đá việc này chị X nghe người khác nói chứ không có căn cứ chứng minh.

Bị đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do khi mua đất của nguyên đơn, trong hợp đồng thể hiện đất có chiều ngang 3m, ông H2 chồng của bà H đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi cất nhà trên đất thì ông H2, bà H có qua xem và đo lại, xác định kích thước, từ đó đồng ý không có ý kiến gì. Do đó, bà X không có lấn đất của bà H nên không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 104/2024/DS-ST ngày 08/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, của Kiểm sát viên, HĐXX nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bà Trần Thị H trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên toà bà Trần Thị H sửa đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, buộc bà Tạ Thị X trả lại diện tích phần đất lấn chiếm là 108,05m², tọa lạc ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Do phần đất có tranh chấp nhỏ nên việc yêu cầu dỡ nhà, trả đất là không cần thiết nên yêu cầu bà X trả theo giá trị với số tiền bằng 113.560.550 đồng.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bà Trần Thị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên toà cho thấy phần đất bà X nhận chuyển nhượng của bà H chiều ngang 03m, chiều dài 71m (diện tích 165,7m²), giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 30.000.000 đồng, giá thực tế 210.000.000 đồng; phần đất của chị X nhận chuyển nhượng từ chị M2 cũng được đo ngang là 07m, chiều dài trên 70m, có tứ cận được xác định rõ ràng. Các đương sự và những người làm chứng đều xác định, khi bà H chuyển nhượng đất cho bà M2, chị X là đo ngang để tính (không đo theo mép lộ), việc này phù hợp với các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H với ông H2, bà V (ngang 4,5m); hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà H với ông C, bà U (ngang 5,00m) đều được đo ngang và phù hợp với mục đích mua đất để cất nhà của chị X. Các giấy tờ, thủ tục chuyển tên quyền sử dụng, hợp, tách thửa đất đều do ông Đinh Việt H2 (chồng bà H) trực tiếp làm dẫn đến sai lệch về vị trí, tọa độ cất nhà, diện tích đất thực tế nhận chuyển nhượng. Khi chuyển nhượng thì các bên có đo đạc thực tế, có cặm mốc, ranh và thống nhất diện tích, vị trí sang nhượng đất. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H, chị X và anh K tự giữ lấy; việc không kiểm tra, không phát hiện sự sai lệch về diện tích được cấp quyền sử dụng đất với diện tích thực tế nhận chuyển nhượng thì bà H, chị X và anh K đều có lỗi.

Trên phần đất của chị X có hai căn nhà, nhà thứ nhất của chị X cất năm 2021, chiều ngang 5,5m, chiều dài 30,27m (không xảy ra tranh chấp); nhà thứ hai của bà Đ1 cất nhà năm 2020, chiều ngang 4,5m, chiều dài 30,98m, loại nhà cấp 4, gồm nhà trước và nhà sau; nhà trước có hiện trạng: Nền lót gạch men, cốt thép, cột bê tông...căn nhà này tiếp giáp với phần đất còn lại của bà H. Khi bà Đ1 cất nhà thì bà H và ông H2 (chồng bà H) có qua xem xét nhiều lần và thống nhất việc cất nhà này, việc chỉ ranh có sự chứng kiến của Trưởng ban nhân dân ấp và thợ xây nhà, bà X, bà Đ1 cất nhà từ năm 2021 đến nay bà H cũng không có ý kiến gì và đối chiếu diện tích đo đạc thực tế phần đất tranh chấp có chiều ngang đo vuông góc, bà X đang sử dụng là 10m, không có lấn chiếm. Tại phiên toà, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh bị đơn lấn chiếm phần đất tranh chấp có diện tích 108, 05m². Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

[4] Tại phiên toà nguyên đơn yêu cầu đo đạc lại phần đất tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy là không cần thiết cho việc giải quyết vụ án, do tranh chấp theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 14/6/2024 của Công ty TNHH P thể hiện kích thước đo ngang phần đất tranh chấp là 10m, đo dọc theo mé lộ 11,18m cũng đã thể hiện đủ căn cứ để xét xử vụ án, nên không chấp nhận yêu cầu đo đạc lại.

[5] Với những phân tích trên, xét thấy bản án sơ thẩm nhận định và quyết định phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Án phí phúc thẩm bà Trần Thị H không phải chịu theo quy định do là người cao tuổi.

[7] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị H; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 104/2024/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc buộc chị Tạ Thị X trả lại giá trị diện tích phần đất lấn chiếm là 108,05m², tọa lạc ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau bằng 113.560.550 đồng.
  2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị H phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, lập bản vẽ hiện trạng thửa đất là 9.215.100 đồng, chi phí thẩm định giá là 6.264.000 đồng, tổng cộng bằng 15.479.100 đồng, bà H đã đăng nộp cho Công ty X1.
  3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%. Miễn toàn bộ án phí cho bà Trần Thị H. Chị Tạ Thị X và bà Tạ Thị Đ1 không phải chịu án phí.
  4. Án phí dân sự phúc Thẩm: Bà Trần Thị H được miễn do là người cao tuổi. Bà Tạ Thị X, anh Nguyễn Văn K, bà Tạ Thị Đ, bà Tạ Thị Đ1 không phải chịu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn A Đam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2025/DS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 152/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Hai yêu cầu bà Tạ Thị Xinh trả lại 108 m2 đất lấn chiếm, trả bằng tiền 113.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger