TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 152/2025/HS-ST Ngày: 21-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam;
Bà Vương Thị Khánh Loan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 135/2025/HSST ngày 25/02/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXX-HS ngày 27/02/2025 và thông báo dời lịch xét xử số 406/TB-TA ngày 13/3/2025 đối với các bị cáo:
1. Trương Xuân S (tên gọi khác: Không), sinh năm 1997 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký HKTT: Xóm D, thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Xóm D, thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Trương Xuân T và bà Nguyễn Thị L; gia đình có ba anh em, bị cáo là con út; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Lê Minh T1, sinh năm 1999, bị cáo chưa có con;
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 06/12/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (có mặt)
2. Đào Ngọc T2 (tên gọi khác: Không), sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký HKTT: A3/162, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Đào Anh T3 (đã chết) và bà Đinh Thị B; gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ 2; bị cáo có vợ tên Lê Thị Thùy D, có 01 con, sinh năm 2017.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/11/2024 đến ngày 06/12/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn V.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Chí T4, sinh năm 1995 – Chức vụ: Tổ trưởng quản lý an ninh.
Địa chỉ: Đường C, Khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Ngọc T2 và Trương Xuân S đều là công nhân xưởng nung đúc – đốt lò thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn V (sau đây gọi tắt là Công ty), địa chỉ tại đường C, Khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc, T2 và S nảy sinh ý định và bàn nhau lấy trộm vật tư dùng để đốt lò gồm Sắt Mo 60% và N 99% mang ra ngoài thị trường bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 26/11/2024, S và T2 đến Công ty làm việc như thường ngày tại bộ phận nung đúc. Đến khoảng 14 giờ 20 phút, S và T2 gặp nhau tại kho của Công ty, lúc này T2 mở tủ sắt rồi cùng S lấy trộm 24 Kilogam sắt MO (loại 60%) và G (loại 99%) cất giấu vào balo của S. Sau đó, S mang chiếc balo ra nhà xe của Công ty để lên xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26, chuẩn bị ra về thì bị bảo vệ của Công ty kiểm tra phát hiện trình báo Đồn Công an khu công nghiệp B1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 khởi tố điều tra xử lý.
Quá trình điều tra Trương Xuân S, Đào Ngọc T2 khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 chiếc balo (màu xám) và 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26, thu giữ của Trương Xuân S.
- - 24 Kilogam sắt MO (60%) và 7,75 Kilogam Niken (99%), là tài sản của Công ty bị trộm cắp, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho đại diện của Công ty là anh Lê Chí T4.
- - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel A90 màu đen (số I: 358511021697952), tạm giữ của S, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho S.
- - 01 USB bên trong chứa hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận định giá tài sản số 404/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: "24 (hai mươi bốn) Kilogam sắt MO 60% và 7,75 (bảy phảy bảy mươi lăm) Kilogam Niken 99% có tổng trị giá 25.877.500 đồng (Hai mươi lăm triệu, tám trăm bảy mươi bảy nghìn, năm trăm đồng)".
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu các bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 172/CT-VKSBH ngày 24/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trương Xuân S và Đào Ngọc T2 tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
Áp dụng khoản 1 Điều 173 và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, 65 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Trương Xuân S và Đào Ngọc T2 mỗi bị cáo 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (hai) năm.
Về xử lý vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc balo (màu xám) thu giữ của Trương Xuân S.
- - Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26, thu giữ của Trương Xuân S.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của bị hại Công ty trách nhiệm hữu hạn V tại phiên toà. Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị hại; Trong giai đoạn điều tra bị hại đã có lời khai lời khai và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có căn cứ để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 26/11/2024, tại địa chỉ đường C, Khu công nghiệp B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trương Xuân S và Đào Ngọc T2 đã có hành vi lấy trộm 24 Kilogam sắt MO (loại 60%) và G (loại 99%) có tổng trị giá 25.877.500 đồng (Hai mươi lăm triệu, tám trăm bảy mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) của Công ty trách nhiệm hữu hạn V để mang ra ngoài thị trường bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi S cùng T2 lấy được tài sản và cất giấu vào ba lô, S đem ba lô xuống nhà xe của Công ty, dự định dùng xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26 chở tài sản trộm cắp được ra ngoài tiêu thụ thì bị bảo vệ của Công ty kiểm tra, phát hiện, trình báo Đồn Công an khu công nghiệp B1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Hành vi của Trương Xuân S và Đào Ngọc T2 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Như vậy cáo trạng số 172/CT-VKSBH ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo theo tội danh và khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Căn cứ vai trò của từng bị cáo, tính chất mức độ hành vi, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo xét thấy:
- Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn: Trong đó bị cáo S và T2 cùng bàn bạc và lấy trộm tài sản, sau đó T2 là nười trực tiếp lấy trộm tài sản, S nhận và đem tài sản ra ngoài tiêu thụ nên có vai trò ngang nhau trong vụ án, cần xử phạt S và T2 với hình phạt ngang nhau là phù hợp.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhệm hình sự: Các bị cáo có đơn trình bày có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa; đã được bị hại làm đơn xin bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
- Về hình phạt chính đối với các bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo S và T2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 2 tình tiết ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù không làm ảnh hưởng đến khả năng tự cải tạo của các bị cáo. Do đó hai bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt hai bị cáo T2 và S hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo cũng như vẫn đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội và cũng để tạo điều kiện cho các bị cáo sửa chữa sai lầm, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: cả hai bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26, thu giữ của bị cáo Trương Xuân S. Sau khi S cùng T2 lấy được tài sản và cất giấu vào ba lô, S đem ba lô xuống nhà xe của Công ty. Bị cáo dự định sử dụng chiếc xe này để vận chuyển tài sản trộm cắp được ra ngoài Công ty tiêu thụ. Tuy nhiên, sau khi để tài sản lên xe, chưa dịch chuyển xe ra khỏi vị trí ban đầu thì bị bắt quả tang, nên chiếc xe chưa được sử dụng vào mục đích phạm tội và không phải là phương tiện phạm tội, do đó cần tuyên trả cho bị cáo S chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26.
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc balo (màu xám) thu giữ của bị cáo S dùng để đựng tài sản trộm cắp được.
- 24 Kilogam sắt MO (60%) và 7,75 Kilogam Niken (99%), là tài sản của Công ty bị trộm cắp, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho bị hại là đúng quy định của pháp luật.
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Viettel A90 màu đen (số I: 358511021697952), tạm giữ của S, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho S đúng quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm và không có ý kiến gì khác nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí:
Buộc bị cáo Trương Xuân S, Đào Ngọc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận; Về xử lý vật chứng không phù hợp một phần, nên chỉ chấp nhận một phần.
[9] Đối với phần trình bày của bị cáo:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt. Đã được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương Xuân S, Đào Ngọc T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung 2017).
- Xử phạt: Bị cáo Trương Xuân S 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Giao bị cáo Trương Xuân S cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Đào Ngọc T2 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, nếu bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Giao bị cáo Đào Ngọc T2 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Hoàn trả cho bị cáo Trương Xuân S 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Airblade biển số 47F1-427.26.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc balo (màu xám) thu giữ của bị cáo Trương Xuân S.
Các vật chứng này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa theo biên bản giao vật chứng, tài sản ngày 26/02/2025.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 và 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Trương Xuân S, Đào Ngọc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với Bản án:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
Bản án số 152/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 152/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Xuân S tội "Trộm cắp tài sản"
