|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU Bản án số: /2024/HNGĐ-ST Ngày 12 – 12 – 2024 "V/v tranh chấp ly hôn" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Nguyễn Minh Cưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Ngày tháng năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 271/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1979;
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Trần Huy H, sinh năm 1974;
Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T;
- Ngân hàng chính sách xã hội huyện T;
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
(Tòa án không triệu tập)
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
(Tòa án không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Kim T trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Trần Huy H tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1997, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, cuộc sống không hạnh phúc nên đã ly thân nhau từ năm 2022. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông H là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông H có 02 con chung tên Trần Tấn Phát sinh năm 1998 và Trần Tố N sinh năm 2002, hiện các cháu đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà T xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T xác định trong thời gian chung sống bà và ông H có nợ các khoản: Nợ Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T số tiền 165.000.000 đồng do ông H đứng tên vay, nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T số tiền 116.500.000 đồng. Khi ly hôn bà với ông H đã thỏa thuận ông H nhận tài sản và tự nguyện có nghĩa vụ trả các khoản nợ cho các ngân hàng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Huy H trình bày:
Về hôn nhân: Ông Trần Huy H thống nhất như lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân là tự nguyện, không có đăng ký kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do bà Thủy C sống với người đàn ông khác và đã có con riêng nên tình cảm của ông đối với bà T không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên đồng ý theo yêu cầu của bà T.
Về con chung: Trong thời gian chung sống ông và bà T có 02 con chung tên Trần Tấn Phát S năm 1998 và Trần Tố N sinh năm 2002, hiện các cháu đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông H xác định trong thời gian chung sống ông và bà T có nợ chung gồm: Nợ Ngân hàng N1 chi nhánh huyện T số tiền 165.000.000 đồng do ông H đứng tên vay, nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện T số tiền 116.500.000 đồng. Khi ly hôn ông và bà T đã thỏa thuận và ông tự nguyện có nghĩa vụ trả các khoản nợ cho các ngân hàng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Đối với Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên Tòa án không triệu tập.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Kim T và ông Trần Huy H chung sống với nhau vào năm 1997, ông, bà xác lập mối quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Tại phiên tòa bà T vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà T với ông H. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, không công nhận bà Nguyễn Kim T và ông Trần Huy H là vợ chồng.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống bà T và ông H có 02 con chung tên Trần Tấn Phát sinh năm 1998 và Trần Tố N sinh năm 2002, hiện các cháu đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: Bà T, ông H đều xác định vợ chồng đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ người khác: Đối với các khoản nợ vay của Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện T và Ngân hàng chính sách xã hội huyện T đều không có yêu cầu khởi kiện theo quy định đối với khoản nợ bà T, ông H đặt ra khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Nếu sau này các đương sự không tự thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện thành một vụ kiện dân sự khác.
- Về án phí: Bà Nguyễn Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Kim T và ông Trần Huy H là vợ chồng.
- Về án phí: Bà Nguyễn Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0016495 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà T, ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số /2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: /2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Kim Th xin ly hôn với Trần Huy H
