Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.
  • Ông Nguyễn Tất Bẩy.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Họ và tên: Chu Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh năm 1996 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Sán dìu; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 9/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Chu Văn Q, sinh năm 1952; Con bà Trương Thị V, sinh năm 1956; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không

Tiền sự:

  • - Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 443 ngày 21/7/2023 của Trưởng Công an xã T, huyện L xử phạt Chu Văn H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Hiện H chưa chấp hành nộp phạt.
  • - Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 515 ngày 05/8/2023 của Trưởng Công an xã T, huyện L xử phạt Chu Văn H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Hiện H chưa chấp hành nộp phạt.
  • - Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 194 ngày 15/9/2024 của Trưởng Công an thị xã C, huyện L xử phạt Chu Văn H số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Hiện H chưa chấp hành nộp phạt.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L (Có mặt).

* Bị hại:

Anh Bùi Văn H1, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 10/9/2024, Chu Văn H, sinh năm 1996, trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi bộ trên Quốc lộ C, hướng thị trấn C đi xã T, huyện L. Khi đi qua cửa nhà chị Lê Thị T, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, huyện L (cạnh điểm chuyển phát nhanh Viettell Post), H phát hiện thấy trước cửa nhà chị T có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe AIRBLADE, màu sơn trắng – xám, BKS 98E1-208.77, số khung RLHJF4600DY105193, số máy JF46E0124316. Đó là xe mô tô của anh Bùi Văn H1, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi làm ở điểm chuyển phát nhanh Viettell Post dựng ở đó. Quan sát thấy xunh quanh không có ai, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa xe nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên làm phương tiện đi lại. H tiến đến vị trí chiếc xe, ngồi lên xe, mở ổ khoá xe rồi nổ máy, sau đó điều khiển xe đi đến thị xã V, tỉnh Bắc Giang để tìm việc làm. Khi đến đây để tránh bị phát hiện H đã tháo biển số xe vứt đi nhưng không nhớ rõ vứt ở vị trí nào. Ngày 12/9/2024, anh Bùi Văn H1 có đơn trình báo Công an huyện L đề nghị giải quyết và giao nộp 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 98E1-208.77 mang tên Bùi Văn H1.

Ngày 14/9/2024, nhận thấy hành vi của mình là sai, Chu Văn H đã đến Công an phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời giao nộp 01 xe mô tô HONDA AIRBLADE, số khung RLHJF4600DY105193, số máy JF46E0124316. Cùng ngày Công an phường T đã chuyển vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xác minh thông tin xe mô tô có số khung RLHJF4600DY105193, số máy JF46E0124316. Kết quả xác định xe mô tô có số khung, số máy như trên có BKS 98E1-208.77, chủ sở hữu là anh Bùi Văn H1.

Ngày 16/9/2024, Cơ quan điều tra ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 101 ngày 17/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô HONDA AIRBLADE, màu xám – trắng, BKS 98E1-208.77 trị giá 15.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Chu Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 21 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Chu Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Văn H từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Khoảng 20 giờ ngày 10/9/2024, tại khu vực trước cửa nhà chị Lê Thị T, sinh năm 1989, ở thôn T, xã T, huyện L, Chu Văn H có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, BKS 98E1-208.77, trị giá 15.000.000 đồng của anh Bùi Văn H1, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 14/9/2024, Chu Văn H đến Công an xã T, thị xã V đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô nêu trên.”.

[3] Hành vi nêu trên của Chu Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương; Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến cơ quan điều tra đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, sử dụng trái phép chất ma túy, lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ là người khó giáo dục, coi thường pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là không có công việc ổn định, nghiện ma túy. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[8] Đối với 01 biển số 98E1-208.77, H khai đã tháo vứt đi trên địa bàn huyện V nhưng không nhớ cụ thể ở vị trí nào nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, bị hại cũng không có yêu cầu, đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Ngày 27/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Bùi Văn H1 01 xe mô tô HONDA AIRBLADE, số khung RLHJF4600DY105193, số máy JF46E0124316; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 98E1-208.77 là phù hợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết;

[10] Về trách nhiệm dân sự: Anh H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phạm tội nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Văn H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/9/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Chu Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - CQCSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cứ trú;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Văn phòng và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 152/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ ngày 10/9/2024, tại khu vực trước cửa nhà chị Lê Thị T, sinh năm 1989, ở thôn T, xã T, huyện L, Chu Văn H có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE, BKS 98E1-208.77, trị giá 15.000.000 đồng của anh Bùi Văn H1, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 14/9/2024, Chu Văn H đến Công an xã T, thị xã V đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô nêu trên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger