Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:152/2024/HSST

Ngày 21-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện

Bà Phạm Thị Yến

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024; thông báo về việc thay đổi lịch phiên tòa số 311/TB-TA ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn G, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1981 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn G1 và bà Giang Thị T; có vợ là Lê Thị T1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 142/2005/HSST Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 14/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Đỗ Văn Q, sinh ngày 25 tháng 02 năm1988 tại Hưng Yên; nơi cư trú: Số A, Tổ dân phố số F, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đ (đã chết) và bà Đặng Thị N; có vợ là Lê Thị Thúy Q1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không); bị tạm giữ từ giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 14/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Đoàn Văn V, sinh ngày 28 tháng 3 năm 1981 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Minh K và bà Hà Thị H; có vợ là Đỗ Thị Phương L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 14/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Đỗ Văn H1, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Hồng Q2 và bà Phạm Thị L1; có vợ là Phạm Thị T2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 14/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Đoàn Quang G2, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Quang B (đã chết) và bà Lê Thị N1; có vợ là Nguyễn Thị D và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 14/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. Khổng Quốc V1, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1980 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A L, Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khổng Quốc N2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L2; có vợ là Lại Thị Hồng T3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 06/5/2024 đến ngày 14/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. Lương Văn Đ1, sinh ngày 08 tháng 11 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số C N, Tổ dân phố số C, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Đ2 và bà Nguyễn Thị B1; có vợ là Đinh Thị Thanh D1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/5/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h30' ngày 06/5/2024, tại lán nghỉ của lái xe thuộc bãi gỗ của Công ty Cổ phần C; địa chỉ: Tổ B, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Đỗ Văn H1, Đoàn Văn V và Khổng Quốc V1 (đều là lái xe của Công ty C) thấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá có sẵn trong lán nghỉ (không xác định được của ai) nên đã cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua trả bằng tiền. H1 là người chia ván bài đầu tiên. Cách thức chơi như sau: mỗi người chơi sẽ góp 10.000 đồng gọi là tiền “gà” mỗi ván; 52 lá bài tú lơ khơ được chia làm 03 phần, mỗi phần 03 lá bài, mỗi người chơi 01 phần bài; sau khi chia bài xong sẽ bắt đầu “tố” theo vòng theo chiều kim đồng hồ. Người chia bài là người “tố” đầu tiên, người sau có thể bỏ bài (úp bài vào bài lọc và chịu thua mất số tiền đã góp gà), “tố” bằng hoặc “tố” thêm, mức “tố” tối thiểu là 10.000 đồng và tối đa không quá 100.000 đồng. Sau khi kết thúc lượt “tố”, những người tham gia “tố” sẽ so bài với nhau, bài ai lớn nhất thì sẽ thắng toàn bộ tiền gà và tiền đã “tố” của ván đó. Người thắng ván bài đó sẽ chia bài ván sau.

Ba người chơi đến khoảng 20h30' cùng ngày thì các lái xe là Hoàng Ngọc T4, Đoàn Quang G2 và Đỗ Văn Q vào tham gia đánh bạc. Khoảng 20h40' cùng ngày, Lương Văn Đ1 vào tham gia đánh bạc cùng. Khoảng 20h50' cùng ngày, Hà Văn G vào tham gia đánh bạc cùng. Cả 08 người nêu trên đánh bạc đến khoảng 21h20' cùng ngày thì bị Đ3 - Công an quận H kiểm tra, bắt quả tang.

Về vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài; số tiền 2.550.000 đồng các đối tượng đang sử dụng vào việc đánh bạc, trong đó: Đỗ Văn Q có 500.000 đồng, Đoàn Quang G2 có 430.000 đồng, Hà Văn G có 400.000 đồng, Đoàn Văn V có 380.000 đồng, Hoàng Ngọc T4 có 280.000 đồng, Đỗ Văn H1 có 250.000 đồng, Khổng Quốc V1 có 230.000 đồng và 80.000 đồng tiền góp gà. Ngoài ra, Cơ quan Công an thu giữ số tiền 7.350.000 đồng trong ví của các đối tượng, trong đó có 6.300.000 đồng các đối tượng sử dụng để đánh bạc: Cụ thể Đỗ Văn Q có 2.800.000 đồng, Hà Văn G có 2.000.000 đồng, Đoàn Văn V có 900.000 đồng, Đỗ Văn H1 có 600.000 đồng và 1.050.000 đồng thu của Đoàn Quang G2 không sử dụng để đánh bạc.

Quá trình Cơ quan Công an kiểm tra, bắt quả tang, Lương Văn Đ1 đã cầm tiền đánh bạc bỏ chạy thoát. Đến ngày 14/5/2024, Đ1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H làm việc theo giấy triệu tập, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp số tiền 130.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Văn Q, Hà Văn G, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Hoàng Ngọc T4, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 khai nhận như nội dung nêu trên. Về số tiền sử dụng để đánh bạc: Đỗ Văn Q có 3.300.000 đồng (500.000 đồng trên chiếu bạc và 2.800.000 đồng trong ví), khai thắng 100.000 đồng; Hà Văn G có 2.400.000 đồng (400.000 đồng trên chiếu bạc và 2.000.000 đồng trong ví), khai thắng 80.000 đồng; Đoàn Văn V có 1.280.000 đồng (380.000 đồng trên chiếu bạc và 900.000 đồng trong ví), khai thắng 80.000 đồng; Đỗ Văn H1 có 850.000 đồng (250.000 đồng trên chiếu bạc và 600.000 đồng trong ví), khai thắng 50.000 đồng; Đoàn Quang G2 có 430.000 đồng (trên chiếu bạc), khai thắng 160.000 đồng; Hoàng Ngọc T4 có 280.000 đồng (trên chiếu bạc), khai thua 370.000 đồng; Khổng Quốc V1 có 230.000 đồng (trên chiếu bạc), khai thua 270.000 đồng; Lương Văn Đ1 có 130.000 đồng (tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Điều tra), khai thua 70.000 đồng; về tiền gà trên chiếu bạc có: 80.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 141/CT- VKS ngày 04/10/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Đỗ Văn Q, Hà Văn G, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 phạm tội về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Đỗ Văn Q, Hà Văn G, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.980.000 đồng phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng; căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn G; Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn H1. Xử:

  • + Phạt tiền bị cáo Hà Văn G từ 30 triệu đồng đến 33 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Đỗ Văn Q từ 27 triệu đồng đến 30 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Đoàn Văn V từ 23 triệu đồng đến 26 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Đỗ Văn H1 từ 23 triệu đồng đến 26 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Đoàn Quang G2 từ 20 triệu đồng đến 23 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Khổng Quốc V1 từ 20 triệu đồng đến 23 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”;
  • + Phạt tiền bị cáo Lương Văn Đ1 từ 20 triệu đồng đến 23 triệu đồng để sung vào ngân sách Nhà nước về tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do hình phạt tiền đã được áp dụng là hình phạt chính.

- Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.980.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ dùng vào việc phạm tội; trả lại cho bị cáo Đoàn Quang G2 số tiền 1.050.000 đồng không sử dụng vào việc đánh bạc. Nhưng cần được giữ lại để đảm bảo thi hành án;

- Về án phí: Các bị cáo Đỗ Văn Q, Hà Văn G, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định: Từ khoảng 19h30' đến khoảng 21h20' ngày 06/5/2024, tại lán nghỉ của lái xe thuộc bãi gỗ của Công ty Cổ phần C ở tổ B, phường N, quận H, thành phố Hải Phòng. Các bị cáo Đỗ Văn Q, Hà Văn G, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh "liêng" được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 8.980.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Đỗ Văn Q, Hà Văn G, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 đồng phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[4] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong cộng đồng dân cư, nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét vai trò của từng bị cáo trong đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để phân hóa tội phạm cũng như áp dụng một mức hình phạt tương xứng theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xét về vai trò của các bị cáo:

[6] Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất cùng thực hiện hành vi đánh bạc. Tuy nhiên số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo Hà Văn G có số tiền tham gia đánh bạc là 2.400.000 đồng, tuy thấp hơn số tiền đánh bạc của Q, nhưng đã có tiền án, nên phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo Đỗ Văn Q có số tiền tham gia đánh bạc là 3.300.000 đồng; bị cáo Đoàn Văn V số tiền tham gia đánh bạc là 1.280.000 đồng và Đỗ Văn H1 số tiền tham gia đánh bạc 850.000 đồng nên mức án tương đương ngang nhau thấp hơn so với Q; bị cáo Đoàn Quang G2 số tiền tham gia đánh bạc 430.000 đồng; bị cáo Khổng Quốc V1 số tiền tham gia đánh bạc 230.000 đồng; bị cáo Lương Văn Đ1 số tiền tham gia đánh bạc 130.000 đồng nên vai trò thấp nhất.

- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[7] Các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Xét nhân thân bị cáo Hà Văn G nhân thân có 01 tiền án năm 2005 về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” đã được xóa án tích nên thuộc trường hợp được coi là không có án tích; đối với các bị cáo Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 đều không có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo Đỗ Văn H1 hiện đang thờ cúng liệt sỹ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Xét các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, K, Lương Văn Đ1 được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Đến nay hành vi vi phạm của các bị cáo không còn gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải áp dụng mức hình phạt cải tạo cách ly xã hội mà cho các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 được áp dụng hình phạt chính là phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự, cũng đảm bảo tính răn đe và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 8.980.000 đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ dùng vào việc phạm tội; trả lại cho bị cáo Đoàn Quang G2 số tiền 1.050.000 đồng không sử dụng vào việc đánh bạc. Nhưng số tiền này cần được giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[11] Ngoài ra, trong vụ án này còn có Hoàng Ngọc T4 có số tiền tham gia đánh bạc là 280.000 đồng . Hiện đang bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định tách vụ án hình sự và Quyết định truy nã đối với Hoàng Ngọc T4.

[12] Đối với Công ty Cổ phần C giao cho toàn bộ lái xe của Công ty tự quản lý, ăn ở, sinh hoạt, Công ty Cổ phần C không biết việc các đối tượng đánh bạc tại Lán nghỉ tại bãi gỗ của Công ty nên không có căn cứ xử lý.

- Về án phí:

[13] Buộc các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[14] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hà Văn G; Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn H1.

Tuyên bố các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 đồng phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

  • + Phạt tiền bị cáo Hà Văn G 30 (ba mươi) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Đỗ Văn Q 27 (hai mươi bảy) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Đoàn Văn V 24 (hai mươi bốn) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Đỗ Văn H1 23 (hai mươi ba) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Đoàn Quang G2 20 (hai mươi) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Khổng Quốc V1 20 (hai mươi) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Phạt tiền bị cáo Lương Văn Đ1 20 (hai mươi) triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 kể từ ngày tuyên án.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài là công cụ dùng vào việc phạm tội.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.980.000 (tám triệu, chín trăm tám mươi nghìn) đồng là số tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội (Theo biên lai thu tiền số 0004829 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
  • + Trả lại cho bị cáo Đoàn Quang G2 số tiền 1.050.000 (một triệu, không trăm năm mươi nghìn) đồng, nhưng số tiền này cần được giữ lại để đảm bảo thi hành án. (Theo biên lai thu tiền số 0004830 ngày 08 tháng 10 năm 2024 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Mỗi bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo Hà Văn G, Đỗ Văn Q, Đoàn Văn V, Đỗ Văn H1, Đoàn Quang G2, Khổng Quốc V1, Lương Văn Đ1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS- Công an quận Hải An;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tội đánh bạc (khoản 1 điều 321 bộ luật hình sự)

  • Số bản án: 152/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn G cùng đồng bọn - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger