Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 152/2024/HS-ST

Ngày 15/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Bà Nguyễn Ngọc Cúc
  • + Ông Nguyễn Ngọc Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1990, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Tổ A, Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (còn sống); có 01 con; Tiền án: không; Tiền sự: Không;
  2. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

  3. Trần Văn T1, sinh năm 1979, tại Thanh Hóa; nơi thường trú: xóm A, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q (còn sống) và bà Trần Thị V (đã chết); có vợ Nguyễn Thị N và 02 con; Tiền án: Không; tiền sự: không.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).

* Người làm chứng: ông Huỳnh Hoàng T2, sinh năm 1993 Nơi cư trú: ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Ngọc A và Trần Văn T1 thường sử dụng trái phép chất ma túy. Vào khoảng 14 giờ ngày 16/6/2024, Trần Văn T1 điều khiển xe mô tô Dream biển số 60M6-3242 trên đường từ thị trấn D, huyện T đến xã V, huyện V thì Nguyễn Thị Ngọc A sử dụng điện thoại Samsung A9 Pro gọi vào điện thoại OPPO A5S rủ T1 tới nhà Ngọc A để sử dụng ma túy. T1 nói với Ngọc A là T1 chỉ có 200.000 đồng góp chung với Ngọc A mua ma túy về sử dụng, Ngọc A đồng ý. Sau đó T1 điều khiển xe mô tô đến nhà Ngọc A tại ấp D, xã V, huyện V. T1 lấy 200.000 đồng đưa cho Ngọc A góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng. Ngọc A nhận tiền và nói với T1 là ma túy đã có sẵn trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy để dưới nền nhà cạnh chiếc võng. T1 vào nhà dùng bật lửa đốt nóng ma túy và sử dụng. Sau khi hút được vài hơi, T1 gọi Ngọc A đến cùng sử dụng ma túy. T1 bật lửa đốt nóng ma túy trong tẩu để Ngọc A sử dụng. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T1 và Ngọc A đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã V, huyện V phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Công an xã lập hồ sơ, thu giữ vật chứng và chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tang vật thu giữ:

  • - Thu giữ tại hiện trường: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 tẩu thủy tinh, 01 chai nhựa hình trụ, 02 đoạn ống hút); 01 túi zip bên trong chứa tinh thể màu trắng.
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc A: 01 điện thoại Samsung A9 Pro, 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng.
  • - Thu giữ của Trần Văn T1: xe mô tô Dream gắn biển số 60M6-3242; 01 điện thoại OPPO A5S.

Đối với 01 bật lửa có 03 hột xí ngầu bên trong có nhiều màu, là dụng cụ đốt nóng ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy Nguyễn Thị Ngọc A và Trần Văn T1 đều dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 23/6/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • + Mẫu tinh thể màu trắng (Mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,054 gam, loại Methamphetamine.
  • + Mẫu cặn bám dính bên trong tẩu thủy tinh (Mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, mẫu dạng vết không xác định được khối lượng.

Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong ký hiệu số 1276/KL-KTHS.

Kết quả xác minh xác định xe mô tô Dream gắn biển số 60M6-3242 có số máy: VTT1P50FMG000414, số khung: VTTDCG033TT000414 không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Tiến hành làm việc với Trần Văn T1 khai nhận mua lại xe vào năm 2022 của người không rõ lai lịch, không làm thủ tục sang tên; Chứng nhận đăng ký đã bị mất.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như quá trình xét xử, các bị cáo không có ý kiến gì về Bản kết luận giám định của Công an tỉnh Đ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Ngọc A khai ma tuý và bộ D sử dụng ma tuý tại nhà là do Huỳnh Hoàng T2 đến nhà Ngọc A chơi vào khoảng 20 ngày trước và để lại một hộp giấy, bên trong có 01 bình nhựa dùng để sử dụng ma tuý đá. Trưa ngày 16/6/2024, T2 tiếp tục đến nhà Ngọc A, mang theo 01 tẩu thuỷ tinh để lắp ráp vào bình nhựa (T2 để lại trước đó), lấy ma tuý T2 mang theo đổ một phần vào tẩu rồi tự sử dụng. Sau đó T2 nói với Ngọc A gọi điện cho Trần Văn T1 đến sử dụng, khi nào T1 đến thì gọi T2 lên gặp T1, nói xong T2 đi về. Ngọc A để nguyên bộ sử dụng ma túy có sẵn ma túy dưới nền nhà và gọi T1 đến cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như trên. Số ma túy trong túi zíp thu giữ tại hiện trường do T2 mang đến để lại. T2 không thừa nhận trình bày của Ngọc A, ngoài lời khai của Ngọc A không có tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh trình bày của Ngọc A là đúng nên không có căn cứ khởi tố xử lý đối với Huỳnh Hoàng T2 trong vụ án này.

Nguyễn Thị Ngọc A còn tàng trữ 0,054 gam ma túy, loại Methamphetamine. Tuy nhiên khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bị can Nguyễn Thị Ngọc A chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên không có căn cứ khởi tố xử lý về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an huyện V đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Ngọc A.

Cáo trạng số 141/CT-VKSVC ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A, Trần Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Đề nghị xử phạt:

  • - Nguyễn Thị Ngọc A: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù.
  • - Trần Văn T1: 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù.

+ Xử lý vật chứng:

  • Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giao xe mô tô Dream gắn biển số 60M6-3242 có số máy: VTT1P50FMG000414, số khung: VTTDCG033TT000414 cho Công an huyện V để xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 1276/KL-KTHS.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung A9 Pro, 01 điện thoại OPPO A5S, 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, là tài sản sử dụng vào việc phạm tội.
  • Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Các bị cáo nói lời sau cùng:

  • Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A: bị cáo rất hối lỗi về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về chăm lo cho con và cho mẹ của bị cáo.
  • Bị cáo Trần Văn T1: bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, chăm lo cho các con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 16/6/2024, tại ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Ngọc A cung cấp địa điểm, cung cấp ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy; Trần Văn T1 góp tiền để mua ma túy, trực tiếp châm lửa đốt nóng ma túy để T1 và Ngọc A cùng sử dụng. Khi đang sử dụng thì bị lực lượng Công an xã V, huyện V phát hiện bắt quả tang.

Nguyễn Thị Ngọc A là người cung cấp ma túy, địa điểm và dụng cụ, Trần Văn T1 góp tiền mua ma túy, trực tiếp châm lửa đốt nóng ma túy để cùng nhau sử dụng ma túy nên hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng các loại chất cấm của Nhà nước. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Bị cáo A là người cung cấp ma túy, địa điểm và dụng cụ, bị cáo T1 góp tiền mua ma túy, đốt ma túy để hai bị cáo sử dụng. Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Xử lý vật chứng:

Giao xe mô tô Dream gắn biển số 60M6-3242 có số máy: VTT1P50FMG000414, số khung: VTTDCG033TT000414 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xử lý theo thẩm quyền.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 1276/KL-KTHS.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung A9 Pro, 01 điện thoại OPPO A5S, 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, là tài sản sử dụng vào việc phạm tội.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Nguyễn Thị Ngọc A về hành vi tàng trữ 0,054 gam ma túy, loại Methamphetamine. Do khối lượng ma túy chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Nguyễn Thị Ngọc A chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên Công an huyện V đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Ngọc A là đúng quy định của pháp luật.

Kiến nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý đối với đối tượng Huỳnh Hoàng T2.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 17, Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A, Trần Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

    Bị cáo Trần Văn T1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2024.

  3. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 1276/KL-KTHS.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Samsung A9 Pro, 01 điện thoại OPPO A5S, 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, là tài sản sử dụng vào việc phạm tội.

    Các vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0004333 cùng ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

  4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 152/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc A + ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger