TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 152/2024/HS-ST
Ngày: 30-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin – Cán bộ hưu trí;
- Bà Lê Thị Xuân Đào – Cán bộ hưu trí;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi - Kiểm sát viên;
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Lê Tấn T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/6/1990.
Nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Minh N, sinh năm 1948 (chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1948 (sống); Vợ Phạm Thị L, sinh năm 1992; Con 01 người sinh năm 2014; Tiền sự: Không;
Tiền án: 01 tiền án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 274/2023/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt Lê Tấn T 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 04/4/2024, Lê Tấn T chấp hành xong án phí. Ngày 08/4/2024, Lê Tấn T chấp hành xong hình phạt tù.
Nhân thân:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HSST ngày 10/4/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Lê Tấn T 06 tháng 04 ngày tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác mà có”. Ngày 10/4/2019, Lê Tấn T chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 22/7/2019, Lê Tấn T chấp hành xong án phí.
Bị cáo Lê Tấn T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo có mặt.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Vũ Thị Kim T1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Đồng Nai. - Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. - Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm: 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
3. Người chứng kiến:
- Ông Hồ Phước LợiHuỳnh Trung G, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. - Ông Lại Quốc T2, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giữa tháng 06 năm 2024, Lê Tấn T đến địa bàn huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm, thời gian này T quen biết với người đàn ông tên H1, không xác định nhân thân, lai lịch. H1 biết T đang cần tiền tiêu xài nên thuê T điều khiển xe mô tô có nguồn gốc do người khác phạm tội mà có từ tỉnh Bình Dương về huyện Đ, tỉnh Long An tiêu thụ, mỗi lần vận chuyển xe thành công H1 trả công cho T số tiền 500.000 đồng, T đồng ý. Đồng thời, T cho H1 số điện thoại 0925.410.xxx, khi có xe cần tiêu thụ thì liên lạc với T thông qua số điện thoại này.
Đến khoảng 09 giờ ngày 02 tháng 07 năm 2024, T đang ở nhà nghỉ không rõ bảng hiệu thuộc xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì H1 điện thoại cho T, kêu T đến khu vực ngã 4 G thuộc Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhận xe có nguồn gốc do phạm tội mà có đi tiêu thụ, T đồng ý và thuê xe mô tô đến điểm hẹn. Khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, T đến nơi, H1 điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở T đi đến Cầu Ô trên đường Q thuộc phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, biển số 62K1-203.51 đến và giao xe mô tô này cho H1. H1 kêu T điều khiển xe mô tô này về ngã 4 Đ thuộc huyện Đ, tỉnh Long An sẽ có người nhận, còn H1 sẽ chạy phía sau hỗ trợ, T đồng ý. Lúc này, T nhận xe mô tô nêu trên, nhìn thấy ổ khóa xe mô tô có dấu hiệu bị cạy khóa, nên biết rõ xe mô tô này do người khác phạm tội mà có. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô biển số 62K1-203.51 đến đoạn đường tỉnh lộ 823B thuộc ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra, T tăng ga bỏ chạy vào đường lộ đá xanh cách đường tỉnh lộ 823B khoảng 200m thì bị bắt quả tang, riêng H1 điều khiển xe mô tô chạy thoát.
Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, gắn biển số 62K1-203.51, số máy: JM51E1196277, số khung: MH1JM5119JK196338; 01 chìa khóa xe mô tô dài 08cm, một đầu bằng nhựa màu đen có chữ Honda, một đầu bằng kim loại bị cắt ngắn mài nhọn.
Qua điều tra xác định: xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, số máy: JM51E1196277, số khung: MH1JM5119JK196338 có biển số thật là 36B8-522.36 do Vũ Thị Kim T1 đứng tên đăng ký giấy chứng nhận. Xe mô tô này bị mất trộm vào khoảng 08 giờ ngày 02/7/2024 tại khu phố H, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, biển số xe 36B8-522.36 đã bị thay đổi thành biển số 62K1-203.51.
Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, kết luận: “ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, số máy: JM51E1196277, số khung: MH1JM5119JK196338, trị giá 30.000.000 đồng.”
Tại bản cáo trạng số 151/CT-VKSĐH ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố Lê Tấn T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự;
Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo Lê Tấn T gây ra; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Tấn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tấn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính ngày 02/7/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, số máy: JM51E1196277, số khung: MH1JM5119JK196338 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bà Vũ Thị Kim T1 vào ngày 01/9/2024 nên không đề cập xem xét.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen gắn số sim 0925410612 của Lê Tấn T sử dụng làm phương tiện liên lạc với H1, trong quá trình T điều khiển xe mô tô bỏ chạy đã làm rơi mất trên đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không có kết quả nên không đề cập xem xét.
Đối với biển số xe mô tô 62K1-203.51 là biển số của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade Fi, do Nguyễn Thị Kim D đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Hiện D vẫn đang quản lý, sử dụng xe và biển số xe mô tô này bình thường nên biển số xe mô tô số 62K1-203.51 đang thu giử cần tịch thu tiêu hủy.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã ra Quyết định chuyển các vật chứng gồm: 01 chìa khóa xe mô tô dài 08cm, một đầu bằng nhựa màu đen có chữ Honda, một đầu bằng kim loại bị cắt ngắn mài nhọn; 01 biển số xe mô tô số 62K1-203.51 đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An quản lý và đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: bà Vũ Thị Kim T1 đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên nên không đề cập xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các chứng cứ đã thu thập là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị các không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[2]. Đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử:
[2.1]. Hành vi khách quan của bị cáo Lê Tấn T đã thực hiện:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02 tháng 07 năm 2024, tại ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Lê Tấn T có hành vi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, gắn biển số 62K1-203.51, trị giá 30.000.000 đồng, xe do người khác phạm tội mà có để vận chuyển thuê cho người đàn ông tên H1, không xác định nhân thân, lai lịch đi từ phường L, thị xã T, tỉnh Bình Dương về huyện Đ, tỉnh Long An tiêu thụ, với số tiền công 500.000 đồng (01 chuyến) thì bị Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bắt quả tang.
Xét lời khai nhận của bị cáo Lê Tấn T tại phiên tòa phù hợp với lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng; đúng về thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi, phù hợp với các chứng cứ khách quan khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản ghi âm, ghi hình đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp nội dung cáo trạng.
[2.2]. Nhận định của Hội đồng xét xử:
Có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Tấn T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Vũ Thị Kim T1 nên phải xử lý bằng pháp luật hình sự. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và bất khả xâm phạm. Bị cáo biết rõ đây là xe có nguồn gốc do phạm tội mà có nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương. Tài sản mà bị cáo T vận chuyển đi tiêu thụ là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, số máy: JM51E1196277, số khung: MH1JM5119JK196338, trị giá 30.000.000 đồng.
Từ đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Tấn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo qui định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Có cơ sở xác định Cáo trạng số 151/CT-VKSĐH ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Lê Tấn T theo tội danh, Điều luật trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá về tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Lê Tấn T không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Hành vi của bị cáo Lê Tấn T thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lê Tấn T thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ đó, xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, màu cam, số máy: JM51E1196277, số khung: MH1JM5119JK196338 cho Vũ Thị Kim T1 xong vào ngày 01/9/2024 nên HĐXX không đề cập xem xét.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen gắn số sim 0925410612 của Lê Tấn T sử dụng làm phương tiện liên lạc với H1, trong quá trình T điều khiển xe mô tô bỏ chạy đã làm rơi mất trên đường, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không có kết quả nên HĐXX không đề cập xem xét.
Đối với biển số xe mô tô 62K1-203.51 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade Fi, do Nguyễn Thị Kim D đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Hiện D vẫn đang quản lý, sử dụng biển số xe mô tô này bình thường nên biển số xe mô tô số 62K1-203.51 không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với: 01 chìa khóa xe mô tô dài 08cm, một đầu bằng nhựa màu đen có chữ Honda, một đầu bằng kim loại bị cắt ngắn mài nhọn; 01 biển số xe mô tô số 62K1-203.51 là tang vật phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Kim T1 đã nhận lại xe mô tô, không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lê Tấn T nên HĐXX không đề cập xem xét.
[7]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/YBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Tấn T nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh:
1.1.Tuyên bố bị cáo Lê Tấn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Tấn T 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính ngày 02/7/2024.
3. Về tạm giam: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Tấn T trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án 30/10/2024 để đảm bảo thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe mô tô dài 08cm, một đầu bằng nhựa màu đen có chữ Honda, một đầu bằng kim loại bị cắt ngắn mài nhọn; 01 biển số xe mô tô số 62K1-203.51. Các tang vật trên Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 07-07/10/2024 ngày 07/10/2024.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Buộc bị cáo Lê Tấn T nộp số tiền 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cào trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7 và 9 Luật 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự - tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 152/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Tấn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo k1 điều 323
