Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIUỘC

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tô Cẩm Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Huy;

2. Ông Phạm Minh Hiếu;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1978 (Xin vắng mặt);

Nơi ĐKTT: Ấp H, xã B, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

Hiện trú tại: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Trịnh Trung N, sinh năm 1970 (Vắng mặt);

Nơi ĐKTT: Số nhà A, đường G, phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện trú tại: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Kim T trình bày: Bà và ông Trịnh Trung N kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 84 ngày 20/11/2012 của Ủy ban nhân dân phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc được vài năm đầu thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà và ông N có tính cách không hợp nhau, bà đã nhiều lần nói chuyện với ông N để vợ chồng hàn gắn nhưng ông N không có thay đổi. Mọi việc trong gia đình chỉ có bà lo liệu, từ kinh tế gia đình đến nuôi dạy con cái. Khoảng hơn nửa năm nay thì vợ chồng không còn sống chung, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nay, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà và ông N có 01 người con chung tên Trịnh Trung T1, sinh ngày 24/02/2013, trước giờ con sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Bà đang buôn bán tại nhà, bảo đảm điều kiện nuôi dạy được con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông N không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bà Lê Thị Kim T xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn ông Trịnh Trung N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông N vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn ông Trịnh Trung N có nơi cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

[1.2] Sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản, giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim T và ông Trịnh Trung N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà T trình bày sau thời gian chung sống, bà và ông N phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên bà nộp đơn xin ly hôn với ông N. Hiện tại, ông bà không còn sống chung, không ai quan tâm đến ai, mỗi người có cuộc sống riêng. Quá trình giải quyết vụ án, ông N vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà T. Ông N cũng không có bất kỳ hành động nào thể hiện mong muốn hàn gắn tình cảm với bà T. Qua đó, xác định ông N không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giữa ông N và bà T không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng nhau chia sẻ các công việc trong gia đình, hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Kim T đối với ông Trịnh Trung N.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông N có 01 người con chung tên Trịnh Trung T1, sinh ngày 24/02/2013. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Hiện tại, con đang sống với bà T, có cuộc sống ổn định và cũng có văn bản thể hiện ý kiến mong muốn được sống với bà T. Bà T bảo đảm có đủ điều kiện để nuôi con. Hơn nữa, ông N không có ý kiến phản hồi về yêu cầu nuôi con của bà T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định yêu cầu nuôi con của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được chấp nhận, giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi. Bà T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định bà và ông N không có tài sản chung, nợ chung; ông N vắng mặt, không có ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[3] Về án phí: Bà Lê Thị Kim T là nguyên đơn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19, Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84, 116 của Luật nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Thị Kim T đối với ông Trịnh Trung N.

    - Về hôn nhân: Bà Lê Thị Kim T được ly hôn với ông Trịnh Trung N.

    - Về con chung: Giao bà Lê Thị Kim T được trực tiếp nuôi con chung, tên Trịnh Trung T1, sinh ngày 24/02/2013.

    Sau khi ly hôn, ông N, bà T có quyền, N vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Ông N có N vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với bà T. Ông N có quyền, N vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp, ông N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông N. Bà T không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  2. Về án phí: Bà Lê Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Tạm ứng án phí bà Lê Thị Kim T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0013196 ngày 24/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, chuyển sang án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THA huyện Cần Giuộc;
  • - UBND xã/phường nơi ĐKKH;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tô Cẩm Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HNGĐ – ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 152/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kim T "ly hôn" Trịnh Trung N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger