Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2024/HS-PT

Ngày 28 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu và ông Nguyễn Phước Hưng;

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Đinh Văn Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 236/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXPT-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Lê Thanh T, sinh năm 1994; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Thanh T, sinh năm 1994, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: khóm T3, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 06/9/2023 cho đến nay; bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh A, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị C, Luật sư Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

Trong vụ án còn có bị hại là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên C1; địa chỉ: số A, đường Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/5/2023, Lê Thanh T vào làm nhân viên giao hàng (Shipper) tại Bưu cục C2 - Công ty TNHH MTV C1 - Chi nhánh C3, địa chỉ: Đường số C, khu dân cư S, ấp T (nay là khóm T), thị trấn C, huyện C, theo hợp đồng lao động số 01150559-23/HĐLĐ. Theo Thông báo số 01/2018/TB ngày 20/6/2018 của Công ty TNHH MTV C1, T có nhiệm vụ giao nhận hàng và thu hộ tiền của khách hàng cho Bưu cục. Lợi dụng nhiệm vụ được giao, T đã giao hàng và thu tiền của khách xong nhưng không quét mã ký nhận đối với toàn bộ số hàng đã nhận mà chỉ quét mã một số đơn hàng, số còn lại T chiếm đoạt, sau đó trong thời hạn 07 ngày, T mới ký xác nhận các đơn hàng đã giao và tìm cách trả lại số tiền đã chiếm đoạt. Đồng thời, để không bị phát hiện, T tự ý quét mã hàng hóa các đơn hàng (đã giao và thu tiền của khách) để tiếp tục thể hiện T đang giao cho khách. Bằng cách thức trên, từ ngày 03/9/2023 đến ngày 05/9/2023, T chiếm đoạt tổng số tiền 275.503.413 đồng, gồm 223 đơn hàng (trong đó, ngày 03/9/2023, 56 đơn hàng, tổng số tiền 40.650.399 đồng; ngày 04/9/2023, 67 đơn hàng, tổng số tiền 31.416.599 đồng; ngày 05/9/2023, 100 đơn hàng, tổng số tiền 203.436.415 đồng). Do mất khả năng chi trả nên T báo Bưu cục C2 và đến Công an thị trấn C, huyện C.

Tại Bản án số 61/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã căn cứ điểm c, điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thanh T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội tham ô tài sản.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/8/2024, bị cáo Lê Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét thêm cho bị cáo về điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, mẹ bị cáo lớn tuổi, sức khỏe kém. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho Công ty, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nhận thức pháp luật của bị cáo hạn chế. Do đó, đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

+ Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: bị cáo kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Thanh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; căn cứ điểm c, điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 5 năm đến 6 năm tù về tội “Tham ô tài sản”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: bị cáo T kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định; về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung:

Lời khai của bị cáo Lê Thanh T tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai của bị cáo còn phù hợp với kết quả điều tra thể hiện qua lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn và số tiền bị cáo chiếm đoạt, cũng như, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lê Thanh T lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được Công ty TNHH MTV C1 - Chi nhánh C3 giao, là nhân viên giao hàng (Shipper) tại Bưu cục C2, bị cáo đã nhiều lần chiếm đoạt tiền hàng mà bị cáo có trách nhiệm thu để nộp cho Công ty sau khi giao hàng tổng số tiền là 275.503.413 đồng, gồm 223 đơn hàng. Trong đó, ngày 03/9/2023, 56 đơn hàng, số tiền bị cáo chiếm đoạt là 40.650.399 đồng; ngày 04/9/2023, 67 đơn hàng, bị cáo chiếm đoạt 31.416.599 đồng; ngày 05/9/2023, 100 đơn hàng, số tiền bị cáo chiếm đoạt là 203.436.415 đồng. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo điểm c và d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù). Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, phạm tội với mục đích, động cơ vụ lợi, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời xem xét nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, sau khi bị phát hiện đã đầu thú với Công an, được đại diện bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có thời gian tham gia quân đội, tham gia hiến máu nhân đạo, gia đình có người thân là người có công với cách mạng, xử phạt bị cáo 7 năm 6 tháng tù là trong khung hình phạt.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét thêm cho bị cáo về tình tiết nhận thức pháp luật hạn chế, mẹ bị cáo lớn tuổi, sức khỏe kém. Xét thấy các tình tiết trên là không mới so với các tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng cho bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, hậu quả hành vi phạm tội đã được khắc phục, cho thấy bị cáo thể hiện thái độ thực sự ăn năn, hối cải, cần xem xét áp dụng điểm d khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ và áp dụng dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và người bào chữa đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tham ô tài sản”;

Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 05 (năm) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam: 06/9/2023.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Bị cáo Lê Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới;
  • Công an huyện Chợ Mới;
  • Viện kiểm sát huyện Chợ Mới;
  • Chi cục Thi hành án DS huyện Chợ Mới;
  • Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • Bị cáo có kháng cáo;
  • Lưu: hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS-PT ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 152/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản được giao quản lý, tiền bán hàng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger