Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 152 /2024/HS - ST

Ngày: 28 – 9 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thịnh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn và ông Hoàng Luật
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung là Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Kiều Thanh A, sinh năm 1990 tại Cần Thơ. “vắng mặt”

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ học vấn: 12/12; con ông Kiều Tấn T (đã chết) và bà Trần Thị H (không rõ năm sinh); có chồng là Nguyễn Văn N, sinh năm: 1991; có 02 con, nhỏ sinh năm 2018, lớn sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 09/5/2024 cho đến nay.

Bị hại: Chị Mỵ Thị N1, sinh năm: 1998 “vắng mặt”

Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 10/2023 đến tháng 5/2024, Kiều Thanh A làm giúp việc nhà cho chị Mỵ Thị N1, sinh năm 1998, trú tại ấp C, xã P, huyện Đ. Trong thời gian làm việc tại nhà chị N1, do không có tiền tiêu xài và trả nợ, A đã thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị N1 như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng tháng 12/2023 (không xác định được ngày), A phát hiện trong tủ gỗ đặt tại phòng ngủ của chị N1 có nhiều tài sản nên lợi dụng không có ai ở nhà, A đi vào phòng ngủ của chị N1, lấy chìa khóa tủ ở trong giỏ xách của chi Nhất mở cửa tủ lấy trộm 01 chiếc nhẫn vàng 24K trọng lượng 05 chỉ, sau đó A đem bán tại tiệm V, địa chỉ lô I khu phố H, thị trấn Đ với giá 30.000.000 đông.

Căn cứ kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hinh sự huyện Đ ngày 09/7/2024, giá trị của 01 nhân vàng 24K trọng lượng 05 chỉ trị giá 31.012.500 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng đầu tháng 04/2024 (không xác định được ngày), với thủ đoạn như trên A mở cửa tủ trong phòng ngủ của chị N1 lấy trộm 02 chiếc nhân vàng 24K, mỗi chiếc có trọng lượng 01 chỉ rồi đem bán tại tiệm V1, địa chỉ tổ A, khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai được 7.000.000 đồng, chiếc nhẫn còn lại A đem bán tại tiệm V, địa chỉ lô I khu phố H, thị trấn Đ với giá 7.013.000 đồng.

Căn cứ kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ ngày 09/7/2024, giá trị của 02 nhẫn vàng 24K mỗi chiếc có khối lượng 01 chỉ trị giá 14.450.000 đồng.

Vụ thứ ba: Vào khoảng giữa tháng 4/2024, lợi dụng không có ai ở nhà, A tiếp tục vào phòng ngủ của chị N1, lấy chìa khóa tủ ở trong giỏ xách, khi mở cửa tủ A phát hiện có nhiều cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng. Vì sợ bị phát hiện nên A rút 20 tờ tiền từ cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, lấy tổng số tiền là 10.000.000 đồng.

Vụ thứ tư: Vào ngày 04/5/2024, lợi dụng không có ai ở nhà, A lén vào phòng ngủ của chị N1, lấy chìa khóa tủ ở trong giỏ xách, mở cửa tủ A phát hiện có nhiều cọc tiền. Vì sợ bị phát hiện nên A rút 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng từ cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng và 20 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng từ hai cọc tiền mệnh giá 100.000 đồng, lấy tổng số tiền là 3.500.000 đồng. A đưa toàn bộ số tiền này cho chồng là Nguyễn Văn N, sinh năm 1991, trú tại khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ.

Sau khi kiểm tra camera của gia đình, chị N1 phát hiện A là người trộm cắp tài sản nên báo cơ quan Công an làm rõ, xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ, Kiều Thanh A đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

* Vật chứng vụ án: Số tiền 3.500.000 đồng.

- Đối với số tiền 3.500.000 đồng hiện đã trao trả cho chủ sở hữu.

* Tài sản thiệt hại:

- Số tiền 13.500.000 đồng.

- 01 chiếc nhẫn vàng 24K có trọng lượng 5 chỉ.

- 02 chiếc nhẫn vàng 24K, mỗi chiếc có trọng lượng 1 chỉ.

Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 58.962.500.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự:

Chị Mỵ Thị N1 yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng. Hiện nay bị cáo đã bồi thường được cho chị N1 số tiền 23.500.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn N, sinh năm 1991, là chồng của bị cáo Kiều Thanh A vì không biết số tiền 3.500.000 đồng do bị cáo trộm được mà có nên không xử lý.

Tại Cáo trạng số 299/CT-VKSÐQ ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Kiều Thanh A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, n, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Kiều Thanh A từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Tòa tuyên:

  • Buộc bị cáo Kiều Thanh A có trách nhiệm nộp số tiền 35.462.500 đồng (trong đó bồi thường cho chị Mỵ Thị N1 số tiền 26.500.000 đồng, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.962.500 đồng do bị cáo A thu lợi bất chính từ việc phạm tội).
  • Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về vật chứng vụ án và án phí.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Kiều Thanh A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/9/2024 bị cáo A trình bày thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng ý với toàn bộ nội dung bản Cáo trạng. Bị cáo nhận thức được hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và đồng ý với mọi quán quyết của Hội đồng xét xử. Ngoài ra đối với yêu cầu bồi thường của chị Mỵ Thị N1 thì bị cáo đồng ý, bị cáo đã bồi thường được số tiền 23.500.000 đồng, số tiền còn lại 26.500.000 bị cáo đồng ý bồi thường cho chị N1 theo quy định.

Bị cáo Kiều Thanh A vắng mặt nên tại phiên tòa nên không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo Kiều Thanh A nhưng bị cáo đã có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do mới sinh con, đang điều trị trong bệnh viện nên không đảm bảo sức khỏe tham gia phiên tòa. Xét thấy mặc dù bị cáo A vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của bị cáo. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo A.

[2] Về tội danh:

Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/9/2024 thể hiện bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng từ tháng 10/2023 đến tháng 4/2024, tại nhà của chị Mỵ Thị N1 thuộc ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Kiều Thanh A đã 04 lần có hành vi trộm cắp tài sản của chị N1 với tổng giá trị thiệt hại là 58.962.500 đồng. Hành vi do bị cáo Kiều Thanh A thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 299/CT-VKSĐQ ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Kiều Thanh A về tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là đúng người, đúng tội và không oan sai cho bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng tài sản của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi của bất kỳ người nào xâm hại đến đều bị pháp luật xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật, xem nhẹ tài sản của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo ngoài việc xâm hại đến tài sản còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục một phần hậu quả, bị cáo là phụ nữ có thai, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết quy định tại các điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo khi quyết định hình phạt, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của chị Mỵ Thị N1 thì tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/9/2024 bị cáo tự nguyện tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 26.500.000 đồng còn lại, trong đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 25/9/2024 nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 8.962.500 đồng bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

[7] Các vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Văn N là chồng của bị cáo A vì không biết số tiền 3.500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nên không xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các điểm a, d, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Kiều Thanh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.325.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 47; Điều 48; Điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • - Khoản 1 Điều 584; Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
  • - Điều 106; Điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, các điểm a, d, f khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
  1. Tuyên bố: Bị cáo Kiều Thanh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Kiều Thanh A 02 (hai) năm tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:

    • Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chị Mỵ Thị N1 số tiền 26.500.000 đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
    • Buộc bị cáo Kiều Thanh A nộp lại số tiền 8.962.500 đồng (Tám triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách nhà nước.
  3. Về án phí: Bị cáo Kiều Thanh A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.325.000 đồng (Một triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Định Quán;
  • - CCTHADS huyện Định Quán;
  • - UBND thị trấn Định Quán;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2024/HS - ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 152/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger