TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 152/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27-9-2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 151/2024/TLST- HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 133/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 30/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 71/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Đậu Thái V, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
Hiện anh V đang lao động tại Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Ngô Thị L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Đậu Thái V kết hôn với nhau vào ngày 10/12/2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị L và anh V sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên xẩy ra cãi vã. Sau đó, anh V đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu mới sang vợ chồng có gọi điện hỏi han, quan tâm nhau, nhưng sau vợ chồng sống cách xa nên tình cảm dần phai nhạt mỗi người đều có những suy nghĩ và lối sống riêng, mâu thuẫn về cuộc sống hôn nhân ngày càng nhiều hơn. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy không còn tình cảm gì với nhau, hạnh phúc hôn nhân không tồn tại trên thực tế nữa nên chị L xin được ly hôn với anh V để đảm bảo cuộc sống của hai bên.
- Về con chung: Chị L và anh V có 02 con chung tên Đậu Thái Thùy C, sinh ngày 01/10/2011 và Đậu Gia V1, sinh ngày 25/4/2015, hiện 02 con chung đang sống cùng chị L. Khi ly chị L có nguyện vọng nuôi con chung. Về cấp dưỡng chị L và anh V tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Đậu Thái V do đang lao động tại nước ngoài nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2024 và 14/8/2024, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của ông Đậu Văn T, sinh năm 1963; địa chỉ: Thon T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là bố đẻ của anh Đậu Thái V. Qua quá trình làm việc ông T cho biết các thông tin về vụ án ông đã nhận được và thông tin lại cho anh V biết và anh V đã nắm bắt được đầy đủ thông tin do có gọi điện về nhà thường xuyên. Anh V không cung cấp được địa chỉ cụ thể tại nước ngoài cho gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị L được ly hôn anh Đậu Thái V.
- - Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đậu Thái Thùy C, sinh ngày 01/10/2011 và Đậu Gia V1, sinh ngày 25/4/2015, hiện 02 con chung đang sống cùng chị L. Giao các con chung Đậu Thái Thùy C và Đậu Gia V1 cho chị Ngô Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Anh Đậu Thái V có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về nội dung giải quyết vụ án:
[1] Anh Đậu Thái V có địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xã K, huyện K, hiện đang lao động tại Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 798/QLXNC-Đ1 ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Phòng Quản lý xuất cảnh - Công an tỉnh H thể hiện: Anh Đậu Thái V, sinh ngày 09/10/1984 nơi thường trú: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 07/12/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2024 và 14/8/2024 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Ngô Thị L và anh Đậu Thái V theo quy định.
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị L và anh V tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện K cấp ngày 10/02/2010 nên hôn nhân giữa chị L và anh V là hôn nhân hợp pháp. Chị L cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên xẩy ra cãi vã. Sau đó, anh V đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu mới sang vợ chồng có gọi điện hỏi han, quan tâm nhau, nhưng sau vợ chồng sống cách xa nên tình cảm dần phai nhạt mỗi người đều có những suy nghĩ và lối sống riêng.
Chị L và anh V là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị L và anh V xảy ra mâu thuẫn từ lâu nhưng giữa chị L và anh V không thể hoà giải hàn gắn tình cảm với nhau. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị L được ly hôn với anh V.
[2.2] Về con chung: Chị L và anh V có 02 con chung là cháu Đậu Thái Thùy C, sinh ngày 01/10/2011 và Đậu Gia V1, sinh ngày 25/4/2015. Hiện nay 02 cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ; để đảm bảo cuộc sống ổn định cho 02 cháu cần giao cháu Đậu Thái Thùy C và cháu Đậu Gia V1 cho chị Ngô Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị L được ly hôn anh Đậu Thái V
- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu cháu Đậu Thái Thùy C, sinh ngày 01/10/2011 và Đậu Gia V1, sinh ngày 25/4/2015 cho chị Ngô Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Chị L và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.
Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Ngô Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị L đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000031 ngày 24/7/2024 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 152/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 152/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Loan và anh Đậu Thái Vinh kết hôn với nhau vào ngày 10/12/2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Giang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị Loan và anh Vinh sống hạnh phúc được một thời gian ngắn đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, thường xuyên xẩy ra cãi vã. Sau đó, anh Vinh đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu mới sang vợ chồng có gọi điện hỏi han, quan tâm nhau, nhưng sau vợ chồng sống cách xa nên tình cảm dần phai nhạt mỗi người đều có những suy nghĩ và lối sống riêng, mâu thuẫn về cuộc sống hôn nhân ngày càng nhiều hơn. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy không còn tình cảm gì với nhau, hạnh phúc hôn nhân không tồn tại trên thực tế nữa nên chị Loan xin được ly hôn với anh Vinh để đảm bảo cuộc sống của hai bên
