TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 152/2024/HS-ST Ngày 23-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DAN
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh ThA Trà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Hải
Bà Nguyễn Thị Kim ThA
Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Minh Hường -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trịnh Ngọc Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Đào Văn A,
sinh ngày 15 tháng 11 năm 1990, tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nơi đăng ký HKTT: Tổ X, thôn T, xã C, thị xã P tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; chỗ ở: Tổ X, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 0/12; giới tính: Nam; dân tộc: Chơ ro; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào H (đã chết) và bà Đào Thị C, sinh năm 1965; Tiền án: không; Tiền sự: 01
Tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 07 tháng 01 năm 2024, của Công an xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ xử phạt Đào Văn A số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định.
Nhân thân: Bản án số 107/2008/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2008, Toà án nhân dân huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26 tháng 6 năm 2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt).
- Bị hại:
- Ông Nguyễn Sơn T, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ X, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng V; địa chỉ: X đường 3/2, P.X. Tp. V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trọng Đ (vắng mặt)
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Đức M, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ X, thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, trA luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Văn A là đối tượng không có việc làm ổn định, đã bị Công an xã Châu Pha ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản vào ngày 07/01/2024, chưa chấp hành xong. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên từ ngày 25/02/2024 đến ngày 19/3/2024 Đào Văn A đã thực hiện hai vụ trộm cắp tài sản tại khu vực thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT. Cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 25/02/2024, A đi bộ qua khu vực thuộc tổ 4, thôn T, xã C tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến nhà của ông Nguyễn Sơn T thì A phát hiện bên hông nhà ông T có để 05 (năm) tấm tôn lợp bằng sắt và 01 (một) thanh xà gồ bằng sắt. Quan sát không có người trông coi nên A đã lén lút đi vào và lấy trộm số tài sản trên rồi đem về nhà của mình cất dấu. Sau đó, A gọi ông Nguyễn Đức M đến nhà và bán được số tiền 288.000 đồng (Hai trăm, tám mươi tám nghìn đồng), A đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ông T đã trình báo cơ quan công an.
Vụ Thứ hai:
Trong thời gian chờ Cơ quan điều tra xử lý vụ việc xảy ra ngày 25/02/2024. Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 19/03/2024, Đào Văn A tiếp tục lén lút đột nhập vào Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng V thuộc tổ 6, thôn T, xã C trộm cắp 02 (hai) tấm khung vạt giường, 02 (khung chân giường) bằng sắt và mang đến cơ sở phế liệu của ông Lê Văn T bán với giá 390.000₫ (ba trăm chín mươi nghìn đồng). Số tiền bán được A đã tiêu xài hết.
Tại cơ quan điều tra, qua làm việc Đào Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐ.ĐGTS ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thị xã Phú Mỹ kết luận:
- + 05 (năm) tấm tôn lợp bằng sắt có kích thước 1,8m x 2,17m, giá trị còn lại tính đến ngày 25/02/2024 là 130.000đ (một trăm ba mươi nghìn đồng).
- + 01 (một) cây sắt vuông cạnh 3cm, dài 2,62m, giá trị còn lại tính đến ngày 25/02/2024 là 140.000đ (một trăm bốn mươi nghìn đồng).
- + 02 (hai) tấm vạt giường bằng sắt (loại sắt hình hộp), kích thước mỗi tấm là 1m x 2m, giá trị còn lại tính đến ngày 25/02/2024 là 195.000đ (một trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- + 02 (hai) khung chân giường bằng sắt (loại khung sắt tròn), kích thước mỗi khung chân giường là ngang 1m, dài 1,85m, giá trị còn lại tính đến ngày 25/02/2024 là 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng). (BL 19-22)
Tổng giá trị tài sản là 645.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Ông Nguyễn Đức M, ông Lê Văn T không biết các tài sản bị cáo bán là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông M, ông T về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Về vật chứng vụ án:
- - 05 (năm) tấm tôn lợp bằng sắt có kích thước 1,8m x 2,17m; 01 (một) cây sắt vuông cạnh 3cm, dài 2,62m đã trả lại cho ông Nguyễn Sơn T theo quyết định xử lý vật chứng số: 1063/QĐ-CSĐT ngày 27/6/2024. (BL 44, 46)
- - 02 (hai) tấm vạt giường bằng sắt (loại sắt hình hộp), kích thước mỗi tấm là 1m x 2m; 02 (hai) khung chân giường bằng sắt (loại khung sắt tròn), kích thước mỗi khung chân giường là ngang 1m, dài 1,85m đã trả lại cho ông Nguyễn Triệu Thế Nguyên - là đại diện Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng V theo quyết định xử lý vật chứng số: 1063/QĐ-CSĐT ngày 27/6/2024. (BL 44, 45).
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Nguyễn Sơn T và Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Ông Nguyễn Đức M và ông Lê Văn T không có yêu cầu bị can Đào Văn A bồi thường thiệt hại.
Bản cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 29-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố Đào Văn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:
Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi, đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị:
- Về tội dA: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Văn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đào Văn A mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
- Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong.
Lời khai của bị cáo:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thừa nhận bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng. Bị cáo không có ý bào chữa mà chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, trA luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội dA và điều luật áp dụng
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các đương sự khác, phù hợp với biên bản tạm giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định được:
Vào khoảng 06 giờ ngày 25/02/2024 tại khu vực tổ 4 thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT, Đào Văn A đã có hành vi lén lút trộm cắp 05 (năm) tấm tôn lợp bằng sắt trị giá 130.000 đồng và 01 (một) thA xà gồ bằng sắt trị giá 140.000 đồng của ông Nguyễn Sơn T. Tiếp đến vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/3/2024 tại khu vực tổ 4 thôn T, xã C, thị xã P, tỉnh BR-VT, A đã có hành vi lén lút trộm cắp 02 (hai) tấm khung vạt giường trị giá 195.000 đồng và 02 (khung chân giường) bằng sắt trị giá 180.000 đồng của Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng V. Tổng giá trị tài sản mà A đã trộm cắp theo kết quả định giá tài sản là 645.000 đồng.
Tại Quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 07 tháng 01 năm 2024, của Công an xã Châu Pha, thị xã Phú Mỹ xử phạt Đào Văn A số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt hành chính. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo có một tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xoá. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo Đào Văn A thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Như vậy, cáo trạng số 145/CT-VKS ngày 29-8-2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và quyết định hình phạt.
Bị cáo là công dân đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì ham chơi, lười lao động bị cáo cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ bản thân. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân, ảnh hưởng xấu trật tự, an ninh tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, đang trong thời gian được tại ngoại chờ xử lý lại tiếp tục phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Bị cáo có một tình tiết tăng nặng và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án 01 (một) năm tù, tương ứng với hành vi phạm tội, tương ứng với đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu đúng theo quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: bị cáo Đào Văn A phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đào Văn A 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 6 năm 2024. - Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30 tháng 12 năm 2016, bị cáo Đào Văn A phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Thanh Trà |
Bản án số 152/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 152/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
