TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 152/2024/DS-ST Ngày: 10 - 09 - 2024 V/v: “ yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và lối đi chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lâm Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Lâm Văn T1, sinh 1953; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định;( vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lã Thị N, sinh năm 1961; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1979; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Đỗ Văn N1, sinh năm 1966 và bà Phạm Thị Y, sinh năm 1968; địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Lâm Thị T2; sinh năm 1980; địa chỉ: TDP số B thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H – Chủ tịch UBND xã H. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Lâm Văn T trình bày:
Ngày 13/9/1997 hộ ông Lâm Văn T1 là bố đẻ anh T được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 8, diện tích 470m² đứng tên hộ ông Lâm Văn T1 tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 595140 ngày 13/9/1997.
Năm 2020 ông Lâm Văn T1, bà Lã Thị N thống nhất tặng cho vợ chồng anh T, chị M toàn bộ thửa đất trên nên đã chỉ vị trí mô mốc đất cho vợ chồng anh T, bà M xây dựng nhà và các công trình phụ khác, vợ chồng ông T đã xây nhà hai tầng kiên cố trên đất theo mô mốc ông T1, bà N mô tả và chỉ mốc giới. Tuy nhiên, sau đó, vợ chồng anh T, chị M đi làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất thì qua đo đạc, xem xét sơ đồ đất được biết vợ chồng anh đang sử dụng một phần đất làm ngõ đi vào thửa đất thửa đất số 299, tờ bản đồ số 08 của hộ ông Đỗ Văn N1.
*Giáp phía Bắc thửa đất số 26 của hộ ông T1 là thửa đất số 299, tờ bản đồ số 08, diện tích 1418m² của hộ ông N1, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên hộ ông Đỗ Văn N1.
Quá trình sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1, bà N và vợ chồng ông Đỗ Văn N1, bà Phạm Thị Y đã thống nhất đổi một phần đất cho nhau để sử dụng. Cụ thể gia đình ông N1 sử dụng 28m² đất mặt đường dong xóm của hộ ông T1 làm ngõ đi vào và gia đình ông T1 sử dụng 42m² đất phía trong của gia đình ông N1 và 35m² đất quy hoạch địa chính làm ngõ đi vào thửa đất của gia đình ông N1 các bên nhất trí với nhau không có tranh chấp gì và không phải thanh toán tiền chênh lệch giá trị tài sản cho nhau, Nay anh T, chị M được bố mẹ cho phần đất này nên đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự nguyện đổi đất này như hiện trạng các bên đang sử dụng.
Nay anh T đề nghị Tòa án công nhận cho anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M được quyền sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 8, diện tích 470m2 đứng tên hộ ông Lâm Văn T1 tại xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 595140 ngày 13/9/1997.
Đề nghị Tòa án công nhận việc đổi đất giữa thửa đất 26 tờ bản đồ số 6 và thửa đất 299 tờ bản đồ số 8 xã H theo hiện trạng sử dụng đất hiện nay cụ thể: ông N1, bà Y được quyền sử dụng 28m² đất của ông T1, bà N tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 8 và anh T, chị M được quyền sử dụng 42m² đất phía Nam thổ của ông N1, bà Y tại thửa đất số 299, tờ bản đồ số 08 xã H của vợ chồng ông N1, bà Y.
Về phần đất được quy hoạch làm ngõ đi vào thửa đất 299, tờ bản đồ số 08 xã H của vợ chồng ông N1, bà Y thì anh T đề nghị Tòa án cho anh T, chị M được tiếp tục sử dụng như hai gia đình đã thống nhất vì gia đình anh đã bỏ ra gần 4,56m mặt đường dong có diện tích 28m² cho gia đình ông N1, bà Y sử dụng làm lối đi nhà vào đảm bảo quyền lối vào thửa đất ông N1, bà Y được rộng rãi thông thoáng không bị ảnh hưởng quyền lợi, gia đình anh sử dụng phần đất phía sau tầm hai về giá trị chênh lệch hai bên không phải thanh toán chênh lệch.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lã Thị N, chị Đỗ Thị M, Ông Đỗ Văn N1, bà Phạm Thị Y cũng nhất trí với nội dung trình bày của nguyên đơn và đề nghị Tòa án ghi nhận yêu cầu của nguyên đơn và giải quyết theo quy định pháp luật.
* UBND xã H trình bày ý kiến: Tại buổi xem xét thẩm định thực địa của Tòa án, đại diện UBND xã H đã tham gia chứng kiến và được biết hiện nay việc sử dụng đất của anh T, chị M với ông N1, bà Y so với sơ đồ địa chính có việc đổi một phần đất cho nhau sử dụng và hiện nay diện tích đất lối đi vào thửa đất số 299 của hộ ông N1, bà Y gia đình ông N1, bà Y đã mở một lối đi khác một phần so với hồ sơ địa chính, phần lối đi trên sơ đồ địa chính thì hiện nay gia đình ông N1 đang sử dụng một phần, anh T, chị M đang sử dụng một phần và có xây một số công trình không báo cáo UBND xã H biết. Anh T, chị M được bố mẹ cho đất thì cũng đã bỏ ra một phần đất cho ông N1, bà Y sử dụng đảm bảo quyền lợi cho đương sự có quyền lợi liên quan nhưng chưa làm thủ tục đăng ký biến động lại đúng với quy định của luật đất đai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu ý kiến:
- Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử cũng như của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lâm Văn T .
Ghi nhận sự tự nguyện thống nhất về việc đổi đất theo hiện trạng sử dụng hiện nay giữa ông T1, bà N, ông N1, bà Y, anh T, chị M.
Công nhận cho anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M được quyền sử dụng diện tích đất 484m² ( trong đó có 442m² (ONT 335 m², NTS 93m²) đất thuộc quyền sử dụng thửa đất 26 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông T1 và 42m² NTS thuộc thửa đất số 299 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông N1).
Ông Đỗ Văn N1, bà Phạm Thị Y được quyền sử dụng diện tích đất 1404m² ( trong đó có 1376m² (ONT 308m², CLN 605m², NTS 463m² ) đất thuộc quyền sử dụng thửa đất 299 tờ bản đồ số 8 xã H, và 28m² NTS thuộc thửa đất số 26 tờ bản đồ số 8 xã H).
Về một phần đất (S3) có diện tích 35m² theo quy hoạch địa chính làm đất ngõ đi vào thửa đất 299 hiện nay anh T, chị M đang sử dụng, anh T chị M, ông T1, bà N đã đổi cho ông N1, bà Y một phần đất khác ở vị trí 1 của mình tiếp giáp phần đất ngõ đi theo quy hoạch địa chính để gia đình ông N1 mở rộng ngõ đi sử dụng theo hiện trạng hiện nay, các bên tự nguyện không tranh chấp và yêu cầu gì, ông N1, bà Y nhất trí để anh T, chị M sử dụng phần đất ngõ không có tranh chấp gì. UBND xã H không có yêu cầu độc lập về việc giải quyết phần đất ngõ đi vào nhà ông N1, bà Y nên không xem xét giải quyết phần đất này.
Về án phí và các vấn đề khác, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt các đương sự nhưng đều có ý kiến và đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp.
[2] Về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và đổi đất:
[2.1]. Về xem xét thẩm định: Theo các tài liệu địa chính thu thập từ UBND xã H, Văn phòng đăng ký đất đai huyện H thì thửa đất số 26, tờ bản đồ số 08 xã H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên hộ ông Lâm Văn T1 theo giấy chứng nhận số L595140 ngày 13/9/1997 có diện tích 470m² (ONT 335 m², NTS 135m²).
Thửa đất số 299, tờ bản đồ số 08 xã H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên hộ ông Đỗ Văn N1 có diện tích 1418m² (ONT 308 m², CLN 605m²; NTS 505m²).
Quá trình sử dụng đất, hai thửa đất trên của hộ ông T1 và hộ ông N1 từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay thì chưa có sự biến động, chỉnh lý gì về hồ sơ địa chính, vẫn giữ nguyên tờ, thửa, diện tích và tên chủ sử dụng đất. Theo số liệu đo đạc của công ty TNHH Â cung cấp thì hiện trạng sử dụng đất của hộ ông T1 đang sử dụng 442m² đất ở thửa 26 tờ bản đồ số 8 xã H; 42m² NTS thuộc thửa đất 229 tờ bản đồ số 8 và 35m² đất lối đi theo hồ sơ địa chính vào hộ ông N1. Hộ ông N1, bà Y đang sử dụng 28m² đất của hộ ông T1, anh T, chị M đang sử dụng 42m² đất của hộ ông N1. Anh T chị M đang sử dụng 35m² đất ngõ quy hoạch địa chính làm ngõ vào hộ ông N1. Các đương sự là ông T1, bà N, anh T, chị M, ông N1, bà Y đầu nhất trí việc sử dụng đất như hiện trang hiện nay các bên không có tranh chấp gì, đề nghị Tòa án ghi nhận việc sử dụng đất theo hiện trạng và việc các đương sự đã tự nguyện đổi đất cho nhau sử dụng và không có tranh chấp gì, không yêu cầu phải thanh toán chênh lệch tài sản cho nhau. UBND xã H không có yêu cầu độc lập. Xét thấy các bên đương sự đều tự nguyện, không có tranh chấp về việc sử dụng theo hiện trạng nên cần ghi nhận sự tự nguyện đổi đất cho nhau giữa các bên đương sự.
[2.2].Về yêu cầu đổi đất: Công nhận cho anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M được quyền sử dụng diện tích 42m² NTS thuộc thửa đất số 299 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông N1.
Công nhận cho ông Đỗ Văn N1, bà Phạm Thị Y được quyền sử dụng diện tích đất 28m² NTS thuộc thửa đất số 26 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông Lâm Văn T1.
[2.3].Về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất: các đương sự ông Lâm Văn T, bà Lã Thị N, chị Đỗ Thị M, ông Lâm Văn T1 đều có lời khai thống nhất ông T1, bà N nhất trí tặng cho anh T, chị M thửa đất 26, tờ bản đồ số 8 diện tích 470m² đứng tên hộ ông Lâm Văn T1. Và nhất trí đổi đất cho ông N1, bà Y sử dụng 28m² tại thửa đất 26 tờ bản đồ số 8 đứng tên ông T1 và anh T, chị M được quyền sử dụng 42m2 tại tờ bản đồ số 8, thửa đất 299 đứng tên hộ ông N1 sau đó tặng cho lại anh T, chị M phần đất đổi này. Đây là vấn đề các đương sự thống nhất tự nguyện không có tranh chấp cần ghi nhận sự tự nguyện này.
[2.4]. Từ những phân tích đánh giá nêu trên: Công nhận cho anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M được quyền sử dụng diện tích đất 484m² ( S1+ S5) ( trong đó có 442m² (ONT 335 m², NTS 93m² ) đất thuộc quyền sử dụng thửa đất 26 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông T1 và 42m² NTS thuộc thửa đất số 299 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông N1).
Ông Đỗ Văn N1, bà Phạm Thị Y được quyền sử dụng diện tích đất 1404m² S2+ S6 + S7( trong đó có 1376m² (ONT 308m², CLN 605m², NTS 463m² ) đất thuộc quyền sử dụng thửa đất 299 tờ bản đồ số 8 xã H đưng tên hộ ông Đỗ Văn N1 và 28m² NTS thuộc thửa đất số 26 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông Lâm Văn T1).
[3]. Về các vấn đề khác: Về phần đất ngõ đi theo sơ đồ quy hoạch địa chính vào thửa đất 299 ( S3+ S4) = 76m² hiện nay ông N1, bà Y đang sử dụng một phần đất (S4) có diện tích 41m² và anh T, chị M đang sử dụng phần đất S3 có diện tích 35m² nhưng hiện nay ông T1, bà N, anh T, chị M có cắt một phần đất ( S2 = 28m²) của mình ở vị trí 1 tiếp giáp phần đất ngõ đi theo quy hoạch địa chính đổi một phần đất khác để gia đình ông N1 mở rộng ngõ đi sử dụng như hiện trạng hiện nay đã đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, các bên tự nguyện không tranh chấp và không yêu cầu tòa án giải quyết gì. UBND xã H không có yêu cầu độc lập về việc giải quyết phần đất ngõ đi vào nhà ông N1, bà Y nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần đất ngõ 35m² này.
[4] Về chi phí tố tụng: Anh Lâm Văn T đã nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng, xác nhận anh T đã nộp đủ và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí:
Anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M phải nộp án phí công nhận quyền sử dụng đất và án phí đổi đất theo quy định pháp luật, ông Đỗ Văn N1, bà Nguyễn Thị Y1 phải nộp án phí đổi đất theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 167 ; khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188, Điều 190 Luật đất đai 2013. Điều 26, 184, 185, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
- Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lâm Văn T.
- Ghi nhận sự tự nguyện đổi đất của ông T1, bà N, anh T, chị M và ông N1, bà Y1 về việc đổi quyền sử dụng đất:Cụ thể anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M được quyền sử dụng diện tích đất 42m² tại thửa số 299, tờ bản đồ số 08 xã H đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Đỗ Văn N1. Và ông N1, bà Y1 được quyền sử dụng diện tích đất 28m² tại thửa số 26, tờ bản đồ số 08 xã H đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Lâm Văn T1.
- Công nhận cho anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M được quyền sử dụng 484m² đất (ký hiệu S1 + S5) (ODT 335m², NTS 149m²) trong đó:442m² tại thửa số 26, tờ bản đồ số 08 xã H đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/09/1997 mang tên hộ ông Lâm Văn T1 và 42m² đất tại thửa số 299, tờ bản đồ số 08 xã H đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Đỗ Văn N1.
- Công Nhận cho ông Đỗ Văn N1, bà Nguyễn Thị Y1 được quyền sử dụng diện tích đất 1404m² S2+ S6 + S7( trong đó có 1376m² (ONT 308m², CLN 605m², NTS 463m²) đất thuộc quyền sử dụng thửa đất 299 tờ bản đồ số 8 xã H đưng tên hộ ông Đỗ Văn N1 và 28m² NTS thuộc thửa đất số 26 tờ bản đồ số 8 xã H đứng tên hộ ông Lâm Văn T1).
- Vị trí ranh giới quyền sử dụng đất của anh T, chị M với ông N1, bà Y1 có sơ đồ vẽ kèm theo.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Anh Lâm Văn T, chị Đỗ Thị M phải nộp 600.000đ án phí ( trong đó 300.000₫ án phí công nhận quyền sử dụng đất và 300.000đ án phí đổi đất dân sự sơ thẩm). Ông Đỗ Văn N1, bà Nguyễn Thị Y1 phải nộp 300.000đ án phí đổi đất.
- Quyền kháng cáo: Các đương vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Phạm Văn Lịch | Lưu Văn Đê | Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 152/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 152/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 152. T- T1 quyền sử dụng đất và ngõ đi chung
