Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

Bản án số: 152/2023/HSST

Ngày: 26.12.2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hồng Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tý – Giáo viên hưu trí

Ông Phạm Thuận – Cán bộ hưu trí

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Lê Ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2023/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Trịnh Đăng K, tên gọi khác; Không. Sinh ngày: 27.7.2006 tại Đà Nẵng (Phạm tội khi 16 tuổi 11 tháng 06 ngày);

Nơi ĐKHKTT: Tổ C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: B N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Hữu T (sinh năm 1985) và bà Trịnh Thị Thu T1 (sinh năm 1988); Nhà có bốn anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 22/12/2022, bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 253/QĐ-XPHC về hành vi “Cố ý gây thương tích”. Hình thức phạt tiền 3.250.000 đồng. (Đã nộp vào ngày 27.12.2022).

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Đà Nẵng từ ngày 07/9/2023, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa của bị cáo Bùi Trịnh Đăng K: Ông Nguyễn Thành Đ - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ; Địa chỉ: Số F đường H, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Trịnh Đăng K: Ông Bùi Hữu T, sinh năm 1985 và bà Trịnh Thị Thu T1, sinh năm 1988; Cùng địa chỉ: Số B N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Là cha mẹ ruột). Có mặt.

- Đại diện cơ quan, tổ chức nơi bị cáo K đang sinh hoạt: Ủy Ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Bị hại:

  • + Em Huỳnh Nguyên K1, sinh ngày 22.3.2007; Địa chỉ: K H, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin vắng mặt.

  • + Người đại diện hợp pháp của bị hại em Huỳnh Nguyên K1: Ông Huỳnh Văn D và bà Trịnh Thị Bích P, Cùng địa chỉ: Tổ A, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng (Là cha mẹ ruột). Có đơn xin vắng mặt.

  • + Đại diện cơ quan, tổ chức nơi bị hại K1 đang sinh hoạt: Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Em Phạm Phúc A, sinh ngày: 23.10.2007; Địa chỉ: 5 Đ, quận H, thành phố Đà Nẵng. Nguyễn Thanh T2. Vắng mặt

  • Người đại diện hợp pháp của em Phạm Phúc A: Bà Nguyễn Thanh T2; Địa chỉ: Số E Đ, quận H, thành phố Đà Nẵng. Nguyễn Thanh T2 (Là mẹ ruột). Vắng mặt.

  • + Em Bùi Trịnh Đăng Q, sinh ngày: 19.7.2007; Địa chỉ: Số B N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  • Người đại diện hợp pháp của em Bùi Trinh Đăng Q1: Ông Bùi Hữu T, sinh năm 1985 và bà Trịnh Thị Thu T1, sinh năm 1988; Cùng địa chỉ: Số B N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Là cha mẹ ruột). Có mặt.

  • + Ông Bùi Hữu T, sinh năm 1985 và bà Trịnh Thị Thu T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số B N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

  • + Ông Võ Châu T3, sinh năm 1989; Địa chỉ: C T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Em Nguyễn Luy N, sinh ngày 29.5.2007; Địa chỉ: Tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

  • + Người đại diện hợp pháp của em Nguyễn Luy N: Ông Nguyễn Đức Trường Q2; Địa chỉ: Tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (Là cha ruột). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/7/2023, Bùi Trịnh Đăng K điều khiển xe Honda Winner X, BKS: 43D2 – 017.99 đi trên đường Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng thì nghe tin bạn của mình là Phạm Phúc A (Sinh ngày 23/10/2007; Trú tại: 5 Đ P.H, Q.H, TP.Đà Nẵng) bị người khác đạp ngã xe trên đường Đ (khu vực gần hầm chui) nên K đến xem. K bực tức vì A bị đánh nên điều khiển xe về nhà tại số B N, phường H, quận C, TP Đà Nẵng lấy 01 (một) dao tự tạo dài khoảng 60cm có cán màu đen cất giấu tại khe tủ bếp, rồi rủ em ruột là Bùi Trịnh Đăng Q (sinh ngày 19/7/2007) đi tìm nhóm đã đạp xe của A để đánh. Q đồng ý và điều khiển xe môtô Winner X BKS: 43D2 – 017.99 chở K đi lòng vòng trên tuyến đường Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 03/7/2023, Q (15 tuổi 11 tháng 14 ngày) và K (16 tuổi 11 tháng 06 ngày) đến hầm chui Điện Biên P1 thì thấy em Huỳnh Nguyên K1 (Sinh ngày 22/3/2007; Trú tại: Tổ A phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng) điều khiển xe Air Blade BKS 43C1-470.80 chở theo bạn là Nguyễn Luy N (Sinh ngày: 29/5/2007, trú tại tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng) đang đi trên đường Đ hướng về ngã tư Đ - H, thành phố Đà Nẵng. K cho rằng K1 là người đã đạp xe của A nên nói Q điều khiển xe đuổi theo. Khi đến trước nhà số A Đ, phường C, quận T, TP ., Q điều khiển xe BKS: 43D2 – 017.99 vượt lên chặn đầu xe của K1, K cầm dao nhảy xuống xe. K1 thấy vậy nên điều khiển xe chạy lên vỉa hè để quay đầu bỏ chạy thì K chạy đến, cầm dao chém trúng vào cổ tay trái của K1 và lên xe để Q chở về nhà, sau đó K mang dao đến khu vực tập kết rác trước cổng chợ H, bỏ dao vào thùng rác (không truy tìm được) rồi quay về nhà ngủ, còn K1 được Nguyễn Luy N chở đến Bệnh viện H1, thành phố Đà Nẵng cấp cứu.

Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 190/KLTTCT-TTPYĐN ngày 04/08/2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế thành phố Đ kết luận: Các kết quả chính: Vết thương phức tạp cổ tay: Đứt toàn bộ lô cơ duỗi mu cổ tay và tổn thương xương cổ tay đã được điều trị phẫu thuật khâu nối gân, cầm máu, đóng vết mổ, đặt nẹp bột cẳng bàn tay tư thế duỗi cổ tay, ngón tay. Hiện tại bên ngoài vết thương đang lành tạo sẹo, cổ tay và mu bàn tay còn sưng nề nhẹ; cổ tay ở tư thế cơ năng không cử động được, duỗi các ngón tay còn hạn chế, bàn tay hồng ấm, không rối loạn cảm giác, không teo cơ, các khớp khác vận động trong giới hạn bình thường; Kết quả Xquang: Vỡ xương đậu vùng cổ tay... Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Nguyên K1 tại thường điểm giám định là 23%, các tổn thương trên là do ngoại lực tác động trực tiếp; Vật tác động phù hợp với vật sắc gây nên.

Quá trình điều tra, Bùi Trịnh Đăng K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu đen, BKS 43D2-017.99 do Võ Châu T3 (sinh năm 1989, trú tại: số C T, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 31/5/2023, anh T3 bán lại xe này cho vợ chồng anh Bùi Hữu T, Trịnh Thị Thu T1; cùng trú tại số B, đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Ngày 02/7/2023, vợ chồng anh T để xe ở nhà thì Bùi Trịnh Đăng K và Bùi Trịnh Đăng Q (là 02 con ruột của anh T, chị T1) tự lấy đi, vợ chồng anh T không biết việc K, Q sử dụng xe đi gây thương tích cho Huỳnh Nguyên K1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định trả lại xe cho vợ chồng anh T, chị T1.

- 01 đĩa DVD chứa 52 file video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn thực hiện hành vi gây thương tích đối với Huỳnh Nguyên K1.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Bùi Trịnh Đăng K đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Nguyên K1 số tiền 20.000.000 đồng, bị hại K1 và người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Văn D (là cha ruột bị hại) không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Với nội dung trên tại Bản cáo trạng số: 156/CT-VKS ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Bùi Trịnh Đăng K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng. Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như về nhân thân của bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ, khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91, Điều 101 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 15 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử lưu trữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD chưa 52 file video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn thực hiện hành vi thương tích đối với K1.

* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Bùi Trịnh Đăng K đã bồi thường cho bị hại Huỳnh Nguyên K1 số tiền 20.000.000 đồng, bị hại K1 và người đại diện theo pháp luật của em K1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Bùi Trịnh Đăng Q có hành vi chở K đi, điều khiển xe mô tô chặn đầu xe để K gây thương tích cho Huỳnh Nguyên K1 nhưng Q chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập truy cứu trách nhiệm hình sự và có Công văn đề nghị Công an quận C và Công an phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường đối với Q.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Trịnh Đăng K khai nhận hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ thành khẩn và không có ý kiến tranh luận.

Đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Trịnh Đăng K có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo đều thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo, thống nhất với quan điểm luận tội, mức hình mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi phạm tội bị cáo chưa đủ tuổi thành niên nên khả năng nhận thức pháp luật còn rất hạn chế.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, Luật sư, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Trịnh Đăng K.

Tại phiên tòa bị cáo Bùi Trịnh Đăng K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan Điều tra. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát Điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, sơ đồ hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 03/7/2023, tại trước nhà số A Đ, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, mặc dù không có mâu thuẫn gì với em Huỳnh Nguyên K1 nhưng Bùi Trịnh Đăng K đã có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là dao tự chế dài 60cm gây thương tích lên cổ tay cho em K1 với tỉ lệ tổn thương là 23% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại Điểm đ khoản 2 (điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Trịnh Đăng K rất táo tợn, manh động và liều lĩnh, phạm tội ngày trong khu vực đông dân cư sinh sống. Mặc dù không có mẫu thuẫn gì với em Huỳnh Nguyên K1 từ trước và cũng chưa xác định được em K1 có phải là người từng đánh bạn của K hay không mà bị cáo đã có hành vi rủ em ruột của mình là Bùi Trịnh Đăng Q điều khiển xe mô tô rượt đuổi rồi sử dụng con dao tự tạo dài 60cm là hung khí nguy hiểm chém vào cổ tay bị hại K1, hậu quả để lại thương tích cho em K1 23%. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có tiền sự về các hành vi “Cố ý gây thương tích”, ngày 22/12/2022 bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.250.000 đồng. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm là cần thiết.

[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng. Bị hại, gia đình bị hại đã nhận đủ tiền và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Tại thời điểm phạm tội, bị cáo Bùi Trịnh Đăng K chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây ra còn hạn chế nên Hội đồng xét xử áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại các điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự, như ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và đề nghị của người bào chữa để xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1, Điều 54 Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị của người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo K ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winer X màu đen, BKS 43D2-017.99 do Võ Châu T3 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 31/5/2023, anh T3 bán lại xe này cho vợ chồng anh Bùi Hữu T, Trịnh Thị Thu T1. Ngày 02/7/2023, vợ chồng anh T để xe ở nhà thì Bùi Trịnh Đăng K và Bùi Trịnh Đăng Q (là 02 con ruột của anh T, chị T1) tự lấy đi, vợ chồng anh T không biết việc K, Q sử dụng xe đi gây thương tích cho Huỳnh Nguyên K1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định trả lại xe cho vợ chồng anh T, chị T1 là có cơ sở.

- Đối với 01 đĩa DVD chứa 52 file video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn thực hiện hành vi thương tích đối với K1 là vật chứng tại liệu lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

[6]. Đối với những vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Bùi Trịnh Đăng Q có hành vi chở K đi, điều khiển xe mô tô chặn đầu xe để K gây thương tích cho K1 nhưng tại thời điểm K phạm tội Q chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập truy cứu trách nhiệm hình sự và có công văn đề nghị Công an quận C và Công an phường H hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường đối với Q là có cở sở, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí Hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo K phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

I. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trịnh Đăng K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

II. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 90; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bùi Trịnh Đăng K 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/9/2023.

III. Về xử lý vật chứng: 01 đĩa DVD chứa 52 file video ghi nhận hình ảnh đối tượng nghi vấn thực hiện hành vi thương tích đối với K1 là vật chứng tại liệu lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

IV. Về án phí và quyền kháng cáo:

1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo K phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).

2. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện KSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê;
  • - Viện KSND Tp Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự quận Thanh Khê;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Hồng Thủy

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2023/HSST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 152/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 90; Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Trịnh Đăng Khoa 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/9/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger