Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH BÌNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 152/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 16 – 11 – 2023

V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Liệt;
  2. Ông Trần Quang Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Trà My – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 364/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1988. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Số E, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày:

Chị Bùi Thị D và anh Nguyễn Văn H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn ngày 24/4/2012, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trước khi kết hôn, anh chị có quen biết, tìm hiểu nhau khoảng 02, 03 tháng. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn.

Trong thời gian anh chị chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến về nhiều việc, chủ yếu là do anh H thường đi nhậu, có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, khoảng 04 đến 05 tháng nay anh H đi làm không đưa tiền cho chị để lo cho gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, vợ chồng xô xác với nhau, khi cự cãi thì có 02 lần anh Nguyễn Văn H cầm dao kêu con đâm anh H, làm các cháu bị hoảng sợ. Ngoài ra, chị D không còn tin tưởng anh H, do anh chị làm chung công ty với nhau, nhưng anh H thường xuyên nói dối với chị tăng ca nên về trễ, nhưng chị hỏi lại quản lý của anh H thì không có việc anh H tăng ca như anh H nói, trong thời gian anh H nói dối tăng ca anh H đi đâu, làm gì chị D không biết. Trong thời gian vợ chồng mâu thuẫn, vợ chồng anh chị đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Hiện nay, chị D không còn tình cảm vợ chồng với anh H.

Chị D và anh H có ba người con chung tên Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006, Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019. Hiện nay, các cháu đang sống chung với anh chị.

Trong thời gian anh chị chung sống với nhau không có tài sản chung và nợ chung.

Chị Bùi Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Về con chung: Chị Bùi Thị D yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung cho đến khi các cháu thành niên, yêu cầu anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng cho 03 con chung với mức cấp dưỡng hàng tháng đối với mỗi cháu là 700.000 đồng.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Anh Nguyễn Văn H thống nhất trình bày của chị Bùi Thị D về quá trình quen biết, tìm hiểu nhau rồi đi đến kết hôn theo trình bày của chị D.

Trong thời gian anh chị chung sống với nhau cũng có phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhưng là những mâu thuẫn bình thường, nhỏ nhặt trong cuộc sống vợ chồng. Đối với trình bày của chị D về việc anh cầm dao kêu con đâm anh là có nhưng chỉ có 01 lần, do anh chị cự cãi, mà cháu Nhật H1 lớn tiếng với anh, anh tức giận nên cầm dao đưa cho cháu H1 kêu cháu H1 đâm anh cho anh chết đi, chứ không phải cầm dao hăm dọa hay gây thương tích cho ai cả. Đối với việc chị D trình bày nói anh nói với chị D đi tăng ca, nhưng không có tăng ca là đúng, nhưng anh làm như vậy là vì anh buồn việc cự cãi giữa vợ chồng nên anh muốn đi đến nhà bạn bè chơi cho đỡ buồn, nên mới nói với chị D đi tăng ca như vậy. Anh H xác định trong thời gian chung sống với chị D, không có đánh nhau với chị D, mà khi cự cãi chị D có đánh anh, anh chỉ xô chị D ra. Anh vẫn chung thủy với chị D, không có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Hiện nay, anh H vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị D, muốn vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ để cùng nhau chăm lo cho các con.

Chị D và anh H có ba người con chung tên Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006, Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019. Hiện nay, các cháu đang sống chung với anh chị.

Trong thời gian anh chị chung sống với nhau không có tài sản chung và nợ chung.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị D, anh H có ý kiến như sau:

  • Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H không đồng ý ly hôn với chị Bùi Thị D.
  • Về con chung: Nếu Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn, thì anh H thống nhất giao cháu Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006 và cháu Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 cho chị D được quyền nuôi dưỡng. Anh H không thống nhất giao cháu Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019 cho chị D được quyền nuôi dưỡng, mà anh yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
  • Anh H không đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị D.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D: Cho chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn H; Giao cháu Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006, Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019 cho chị Bùi Thị D được quyền nuôi dưỡng đến khi cháu thành niên; Buộc anh H cấp dưỡng cho 03 con chung, với mức dưỡng hàng tháng đối với mỗi cháu là 700.000 đồng; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.

* Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị Bùi Thị D và anh Nguyễn Văn H; Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Nhật H1, Nguyễn Thị Lan H2 và Nguyễn Tiến K; Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 27/10/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn H cư trú tại số E, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn ngày 24/4/2012, tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Việc anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn. Việc kết hôn giữa chị Bùi Thị D và anh Nguyễn Văn H là đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét thấy, trong thời gian anh chị chung sống với nhau anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cự cãi, xảy ra hành vi bạo lực gia đình. Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ cho anh chị, nhưng chị D cương quyết ly hôn. Chị D xác định không còn thương yêu, quan tâm gì đến anh H. Mặc dù, anh H vẫn còn tình cảm và không muốn ly hôn với chị D. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; nhưng từ những phân tích trên cho thấy, trong thời gian anh chị chung sống với nhau có hành vi bạo lực gia đình, chị D đã không còn thương yêu, quan tâm gì đến anh H, không muốn cùng với anh H chăm sóc, giúp đỡ nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị D và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị D đối với anh Nguyễn Văn H là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Chị Bùi Thị D và anh Nguyễn Văn H có ba người con chung tên Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006, Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019. Hiện nay, các cháu đang sống cùng với anh chị tại số E, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Xét thấy, cháu H1 và cháu H2 có nguyện vọng được sống với chị D, anh H thống nhất giao cháu H1 và cháu H2 cho chị D nuôi dưỡng; nên công nhận sự thỏa thuận của anh chị, giao cháu H1 và cháu H2 cho chị D được quyền nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với cháu K, hiện nay cháu còn nhỏ cần có sự quan tâm, chăm sóc chu đáo của người mẹ; Mặt khác, cháu đã quen sống trong môi trường có anh chị cháu là cháu H1 và cháu H2. Vì vậy, để tránh việc thay đổi môi trường sống của cháu K, đảm bảo cho cháu được phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, tiếp tục giao cháu K cho chị D được quyền trực tiếp nuôi con là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con:

Do Hội đồng xét xử giao 03 con chung cho chị D được quyền nuôi dưỡng nên anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 03 con chung. Việc anh H không đồng ý cấp dưỡng cho 03 con chung là không phù hợp với quy định pháp luật. Tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định như sau: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.

Xét thấy, chị D yêu cầu anh H cấp dưỡng cho 03 con chung, với mức cấp dưỡng hàng tháng đối với mỗi cháu là 700.000 đồng, là phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của anh H và nhu cầu thiết yếu của các cháu, nên được chấp nhận.

Vì vậy, chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của chị D, buộc anh H cấp dưỡng cho 03 con chung, với mức cấp dưỡng hàng tháng đối với mỗi cháu là 700.000 đồng đến khi các cháu thành niên, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023).

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị D và anh H xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Chị Bùi Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 69, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D.

- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006, Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019 cho chị Bùi Thị D được quyền trực tiếp nuôi con.

Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Văn H không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Bùi Thị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Nguyễn Văn H.

Anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Nhật H1, sinh ngày 15/9/2006, Nguyễn Thị Lan H2, sinh ngày 19/10/2012 và Nguyễn Tiến K, sinh ngày 16/9/2019, với mức cấp dưỡng hàng tháng đối với mỗi cháu là 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023).

- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí:

Chị Bùi Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000272 ngày 02/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp. Chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình;
  • - UBND xã Phú Lợi, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (ĐKKH số 34, ngày 24/4/2012);
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bạch Phiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 152/2023/HNGĐ-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 152/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị H yêu cầu ly hôn Nguyễn Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger